Ở mỗi cấp chính quyền địa phương — tỉnh và xã — có hai chủ thể ban hành văn bản quy phạm: Hội đồng nhân dân ban hành nghị quyết, Uỷ ban nhân dân ban hành quyết định. Hội đồng nhân dân là cơ quan dân cử, quyết định những vấn đề lớn của địa phương; Uỷ ban nhân dân là cơ quan hành chính, do Hội đồng nhân dân bầu ra, tổ chức thực hiện. Vì thế quyết định của Uỷ ban phải phù hợp với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Người dân thường chỉ nhớ "tỉnh ra văn bản" mà không phân biệt văn bản đó của Hội đồng nhân dân hay Uỷ ban. Phân biệt được giúp bạn biết văn bản nào nặng hơn khi hai văn bản cùng nói một việc, biết ai có quyền sửa, và biết vì sao có những việc phải chờ kỳ họp Hội đồng nhân dân mới quyết được. Nội dung tỉnh, xã được quy định những gì được bàn ở chuyên mục văn bản địa phương; ở đây tập trung vào phân chia thẩm quyền.
Hai cơ quan, hai vai
Hội đồng nhân dân do cử tri địa phương bầu, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Vai của Hội đồng nhân dân là quyết định: chính sách của địa phương, dự toán và phân bổ ngân sách, những biện pháp có tính đặc thù, những vấn đề luật giao cho cơ quan dân cử quyết. Hội đồng nhân dân làm việc qua kỳ họp, các đại biểu biểu quyết thông qua nghị quyết.
Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Vai của Uỷ ban là tổ chức thực hiện: biến nghị quyết của Hội đồng nhân dân và văn bản cấp trên thành quy trình, quy chế quản lý cụ thể. Uỷ ban làm việc theo chế độ tập thể kết hợp trách nhiệm của chủ tịch; quyết định quy phạm là quyết định của tập thể Uỷ ban.
Hiểu hai vai này rồi thì phần lớn câu hỏi "ai quy định" tự có lời đáp: việc mang tính chọn lựa chính sách, chi tiêu ngân sách, đặt khoản thu thì thường thuộc Hội đồng nhân dân; việc mang tính tổ chức thi hành, quản lý hằng ngày thì thường thuộc Uỷ ban. Đây là nguyên lý chung, không thay cho từng điều luật giao việc cụ thể.
Việc nào thường thuộc ai
Bảng dưới gom những loại việc người dân, doanh nghiệp hay gặp ở tỉnh. Cột cuối nêu nguyên lý chung; luật chuyên ngành có thể giao khác, nên khi cần chắc thì đọc điều luật giao việc.
| Loại việc | Thường do | Văn bản | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Quyết định một số khoản phí, lệ phí ở địa phương | Hội đồng nhân dân tỉnh | Nghị quyết | Trong danh mục và khung mà pháp luật về phí, lệ phí giao cho tỉnh |
| Bảng giá đất | Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định, Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng và trình | Nghị quyết | Theo Luật Đất đai 2024 |
| Chính sách hỗ trợ riêng của tỉnh dùng ngân sách địa phương | Hội đồng nhân dân tỉnh | Nghị quyết | Uỷ ban có thể được giao quy định trình tự thực hiện |
| Quy định quản lý trong một lĩnh vực được luật, nghị định giao cho Uỷ ban | Uỷ ban nhân dân tỉnh | Quyết định | Thường ban hành dưới dạng quyết định kèm theo bản quy định |
| Quy chế phối hợp giữa các sở, xã trong một thủ tục | Uỷ ban nhân dân tỉnh | Quyết định | Có thể là quy phạm hoặc chỉ là văn bản nội bộ, xem nội dung |
| Việc được luật giao riêng cho cấp xã | Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân xã | Nghị quyết, quyết định | Chỉ trong phạm vi được giao |
Dòng bảng giá đất là ví dụ cho thấy thẩm quyền có thể dịch chuyển khi luật thay đổi: trước đây, bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành sau khi được Hội đồng nhân dân thông qua; theo Luật Đất đai 2024, Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định bảng giá đất. Đọc văn bản cũ của tỉnh, bạn cần biết nó được ban hành theo luật nào.
Những ai ở địa phương không ban hành văn bản quy phạm
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Chủ tịch ký quyết định quy phạm thay mặt Uỷ ban, nhưng chức danh chủ tịch không có loại văn bản quy phạm riêng. Quyết định do chủ tịch ký với tư cách cá nhân — xử phạt, giải quyết khiếu nại, giao đất cho một người — là quyết định cá biệt.
Thường trực Hội đồng nhân dân. Thường trực điều hoà hoạt động của Hội đồng nhân dân giữa hai kỳ họp, có thể ra văn bản về tổ chức kỳ họp, giám sát, nhưng không ban hành nghị quyết quy phạm thay Hội đồng nhân dân. Một số việc luật cho phép Thường trực quyết định trong thời gian giữa hai kỳ họp phải được báo cáo Hội đồng nhân dân tại kỳ họp gần nhất.
Các ban của Hội đồng nhân dân. Ban kinh tế – ngân sách, ban văn hoá – xã hội, ban pháp chế thẩm tra dự thảo, giám sát; họ không ban hành quy phạm.
Sở, cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban. Sở tham mưu, soạn thảo và tổ chức thực hiện. Văn bản của sở là văn bản hành chính, không phải quy phạm, dù nội dung có thể rất cụ thể và ảnh hưởng trực tiếp tới bạn.
Khi nghị quyết và quyết định cùng nói một việc
Quyết định quy phạm của Uỷ ban nhân dân phải phù hợp với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Nếu Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định đối tượng được hỗ trợ và mức hỗ trợ, Uỷ ban chỉ được quy định trình tự, hồ sơ để thực hiện, không được thu hẹp đối tượng hay hạ mức hỗ trợ đã quyết.
Ví dụ giả định: nghị quyết của Hội đồng nhân dân một tỉnh quy định hộ kinh doanh mới thành lập trong vùng khó khăn được hỗ trợ một phần chi phí thuê mặt bằng trong năm đầu. Uỷ ban ban hành quyết định quy định hồ sơ, trong đó yêu cầu hộ kinh doanh phải có ít nhất hai lao động. Điều kiện hai lao động không có trong nghị quyết, nên quyết định của Uỷ ban đã thu hẹp đối tượng được hưởng — một dạng vượt khỏi phần được giao.
Với cơ chế kiểm soát, theo luật tổ chức chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân có quyền bãi bỏ văn bản trái pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Ngoài ra còn cơ chế kiểm tra văn bản của cơ quan tư pháp và của cấp trên. Người dân gặp trường hợp như ví dụ có thể kiến nghị tới Hội đồng nhân dân qua đại biểu, tới Uỷ ban, hoặc phản ánh tới cơ quan kiểm tra văn bản.
Chiều ngược lại cũng cần nhớ: có những việc luật, nghị định giao thẳng cho Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định. Khi đó Uỷ ban ban hành quyết định quy phạm dựa trực tiếp vào văn bản cấp trên, không cần một nghị quyết của Hội đồng nhân dân đứng trước. Vì vậy đừng mặc định mọi quyết định của Uỷ ban đều phải có nghị quyết đi kèm; hãy xem phần căn cứ để biết quyết định đó được giao từ đâu.
Cấp xã: cùng cấu trúc, phạm vi hẹp hơn
Từ ngày 1/7/2025, chính quyền địa phương còn hai cấp. Ở cấp xã, gồm xã, phường và đặc khu, cũng có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, với cùng cách chia: nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Uỷ ban nhân dân. Nhưng phạm vi ban hành văn bản quy phạm của xã hẹp hơn tỉnh nhiều.
Nguyên lý chung là cấp xã ban hành văn bản quy phạm về những vấn đề được luật và văn bản cấp trên giao, cùng những biện pháp tổ chức thi hành ở địa bàn trong khuôn khổ được phép. Phạm vi cụ thể đã được điều chỉnh khi sửa luật năm 2025 để khớp mô hình hai cấp, nên khi gặp một văn bản quy phạm của xã, bạn nên xem phần căn cứ để biết xã được giao quy định việc đó từ đâu.
Một hệ quả thực tế: phần lớn văn bản bạn nhận từ xã — quyết định xử phạt, giấy xác nhận, thông báo, kế hoạch — không phải văn bản quy phạm. Chúng có giá trị với việc cụ thể của bạn, nhưng không đặt ra quy tắc chung. Văn bản quy phạm của xã thường ít, và luôn phải có căn cứ giao việc rõ ràng.
Muốn biết một quy định của tỉnh do ai ban hành: làm thế nào
Khi được yêu cầu làm theo "quy định của tỉnh", bạn có thể tự xác định đó là văn bản của Hội đồng nhân dân hay của Uỷ ban, và nó dựa vào đâu, theo các bước sau:
- Xin hoặc tìm số hiệu văn bản cụ thể. Một "quy định của tỉnh" không có số hiệu thì chưa đủ để bạn kiểm tra.
- Nhìn tên loại và cơ quan ban hành ở đầu văn bản: nghị quyết của Hội đồng nhân dân hay quyết định của Uỷ ban nhân dân. Nếu là quyết định, xem có câu "ban hành kèm theo quyết định này quy định…" không; nội dung thật nằm ở bản quy định kèm theo.
- Đọc phần căn cứ. Quyết định của Uỷ ban thường dẫn luật chuyên ngành, nghị định giao việc và có khi dẫn cả nghị quyết của Hội đồng nhân dân mà nó tổ chức thực hiện.
- Nếu quyết định dẫn một nghị quyết, mở nghị quyết đó và so: đối tượng, mức, điều kiện trong quyết định có khớp với nghị quyết không.
- Kiểm tình trạng văn bản trên nguồn chính thức của tỉnh hoặc cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật, đặc biệt với văn bản ký trước khi tỉnh sáp nhập.
Năm bước này thường mất chưa tới nửa giờ, nhưng giúp bạn tránh hai sai lầm phổ biến: làm theo một bản quy định đã được thay, và bỏ lỡ một quyền lợi mà nghị quyết của Hội đồng nhân dân dành cho mình nhưng văn bản thực hiện đã viết hẹp lại.
Câu hỏi thường gặp
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh, cái nào cao hơn?
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh có hiệu lực cao hơn quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Uỷ ban là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân nên văn bản của Uỷ ban phải phù hợp với nghị quyết cùng cấp.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh có ký được văn bản quy phạm không?
Chủ tịch ký quyết định quy phạm thay mặt Uỷ ban nhân dân, với dòng thay mặt Uỷ ban ở phần chữ ký. Còn văn bản do chủ tịch ban hành với tư cách cá nhân thường là quyết định cá biệt hoặc chỉ đạo điều hành, không phải quy phạm.
Thường trực Hội đồng nhân dân có ban hành nghị quyết quy phạm được không?
Không. Thường trực Hội đồng nhân dân không có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm. Nghị quyết quy phạm của địa phương phải do Hội đồng nhân dân thông qua tại kỳ họp theo trình tự luật định.
Phí, lệ phí ở địa phương do ai quyết định?
Với những khoản phí, lệ phí mà pháp luật về phí, lệ phí giao cho địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định bằng nghị quyết trong danh mục và khung cho phép. Uỷ ban và sở không tự đặt khoản thu mới. Mức cụ thể nên tra nghị quyết hiện hành của tỉnh.
Văn bản của Uỷ ban nhân dân xã có phải đều là văn bản quy phạm không?
Không. Phần lớn văn bản của xã là văn bản cá biệt hoặc hành chính như quyết định xử phạt, xác nhận, thông báo, kế hoạch. Văn bản quy phạm của xã chỉ có khi xã được giao quy định một vấn đề và ban hành đúng hình thức, trình tự.
Hội đồng nhân dân có thể bãi bỏ quyết định của Uỷ ban nhân dân không?
Theo pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân có quyền bãi bỏ văn bản trái pháp luật của Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Bên cạnh đó còn cơ chế kiểm tra, xử lý văn bản của cơ quan cấp trên và cơ quan tư pháp.