LapPhap.comLập Pháp
Đọc cấu trúc một văn bản

Phần căn cứ ban hành trong luật, nghị định, thông tư: mấy dòng đầu cho biết điều gì

Mấy dòng "Căn cứ…" ở đầu văn bản cho biết nó dựa vào luật nào, ai đề nghị ban hành. Cách đọc để lần ngược lên văn bản cấp trên khi cần đối chiếu.

Close view of two hands holding a thick plain bound volume open beside a stack of blank pages on a library table in Hue, warm window light, shallow focus

Phần căn cứ ban hành là chuỗi dòng mở bằng chữ "Căn cứ" ngay dưới tên văn bản. Nó cho biết văn bản dựa vào những văn bản cấp trên nào để ra đời, cơ quan nào đề nghị ban hành, và qua đó chỉ đường cho bạn lần ngược lên luật, nghị định gốc khi cần kiểm một quy định.

Nhiều người đọc lướt qua đoạn này vì thấy toàn tên văn bản, không có quy tắc nào. Đúng là phần căn cứ không đặt ra quyền hay nghĩa vụ. Nhưng với người muốn biết một yêu cầu trong thông tư có "gốc" ở đâu, hay muốn hiểu vì sao một văn bản của tỉnh được phép quy định một mức thu nào đó, đây là đoạn quan trọng nhất. Bài này chỉ cách đọc từng loại dòng trong phần căn cứ và dùng nó như một tấm bản đồ.

Phần căn cứ nằm ở đâu và trông thế nào

Sau tên loại và trích yếu, trước câu ban hành, bạn sẽ thấy một khối chữ nghiêng hoặc chữ thường, mỗi dòng một căn cứ, kết thúc bằng dấu chấm phẩy. Dòng cuối cùng của khối là câu ban hành, kiểu "Chính phủ ban hành Nghị định…" hoặc "Bộ trưởng Bộ… ban hành Thông tư…". Câu này khép phần căn cứ lại và mở ra phần nội dung với Điều 1.

Ở luật của Quốc hội, phần căn cứ rất ngắn, thường chỉ một dòng căn cứ Hiến pháp rồi câu "Quốc hội ban hành Luật…". Lý do đơn giản: trên luật chỉ có Hiến pháp. Càng xuống tầng dưới, phần căn cứ càng dài, vì văn bản phải chỉ ra cả căn cứ về thẩm quyền của cơ quan ban hành lẫn căn cứ về nội dung mà nó cụ thể hoá.

Với người đọc, độ dài của phần căn cứ cũng là một gợi ý. Một thông tư có tới năm sáu dòng căn cứ thường đang chi tiết hoá một chuỗi luật và nghị định; muốn hiểu thông tư đó cho đúng, bạn có thể phải mở cả chuỗi. Một quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh căn cứ một điều cụ thể của luật thường là văn bản quy định chi tiết nội dung được giao cho tỉnh, phạm vi hẹp và rõ.

Ba lớp căn cứ thường gặp

Căn cứ về thẩm quyền. Là văn bản quy định cơ quan ban hành có quyền làm việc này. Với nghị định, đó thường là luật về tổ chức Chính phủ; với thông tư, đó là nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ; với văn bản địa phương, đó là luật về tổ chức chính quyền địa phương. Cùng lớp này thường có Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quy định cách thức ban hành.

Căn cứ về nội dung. Là luật, nghị định mà văn bản đang cụ thể hoá. Đây là lớp hữu ích nhất cho người đọc vì nó chỉ ra văn bản cấp trên trực tiếp. Nếu văn bản quy định chi tiết một điều cụ thể, dòng căn cứ đôi khi ghi luôn điều, khoản được giao, giúp bạn tìm đúng chỗ trong luật.

Dòng đề nghị và các bước trình. Nghị định có dòng "Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ…"; thông tư có dòng "Theo đề nghị của" thủ trưởng một đơn vị thuộc bộ; nghị quyết của Hội đồng nhân dân thường có dòng "Xét tờ trình…" và báo cáo thẩm tra. Lớp này không phải căn cứ pháp lý theo nghĩa hẹp, nhưng cho bạn biết đơn vị nào chủ trì soạn văn bản, cũng là nơi thường được giao hướng dẫn và giải đáp khi áp dụng.

Phần căn cứ của từng loại văn bản khác nhau ra sao

Bảng dưới mô tả mẫu thường gặp, không phải khuôn bắt buộc từng chữ. Mỗi văn bản cụ thể có thể thêm bớt dòng tuỳ nội dung.

Loại văn bảnThường căn cứ vàoCâu khép phần căn cứ
Luật, nghị quyết của Quốc hộiHiến pháp"Quốc hội ban hành Luật…"
Nghị địnhLuật về tổ chức Chính phủ, Luật Ban hành văn bản, luật chuyên ngành; đề nghị của bộ"Chính phủ ban hành Nghị định…"
Quyết định của Thủ tướngLuật về tổ chức Chính phủ, luật hoặc nghị định liên quan; đề nghị của bộ"Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định…"
Thông tưLuật, nghị định được chi tiết; nghị định về chức năng của bộ; đề nghị của đơn vị thuộc bộ"Bộ trưởng Bộ… ban hành Thông tư…"
Nghị quyết của Hội đồng nhân dânLuật về tổ chức chính quyền địa phương, luật chuyên ngành; tờ trình của Uỷ ban nhân dân"Quyết nghị" hoặc câu ban hành tương đương
Quyết định của Uỷ ban nhân dânLuật về tổ chức chính quyền địa phương, văn bản cấp trên giao; đề nghị của cơ quan chuyên môn"Uỷ ban nhân dân… ban hành Quyết định…"

Điểm chung của mọi dòng là đi từ cao xuống thấp: văn bản về thẩm quyền trước, văn bản chuyên ngành sau, đề nghị của cơ quan trình ở cuối. Nắm thứ tự này, bạn đọc phần căn cứ của văn bản nào cũng nhanh, kể cả loại văn bản ít gặp.

Dùng phần căn cứ để lần lên văn bản cấp trên

Khi nghi một quy định ở văn bản cấp dưới, chẳng hạn một yêu cầu hồ sơ trong thông tư có vẻ nặng hơn những gì nghị định đòi hỏi, bạn có thể làm theo trình tự sau:

  1. Gạch riêng các dòng căn cứ về nội dung, bỏ qua dòng về thẩm quyền và dòng đề nghị.
  2. Chọn văn bản có liên quan trực tiếp nhất tới quy định đang nghi, thường là nghị định hoặc luật chuyên ngành gần nhất.
  3. Mở văn bản đó, tìm điều giao cho cơ quan cấp dưới quy định nội dung này, thường có câu kiểu "Bộ trưởng Bộ… quy định chi tiết…".
  4. So phạm vi được giao với nội dung văn bản cấp dưới đã viết: cùng việc hay đã mở rộng sang việc khác.
  5. Ghi lại kết quả kèm địa chỉ cụ thể của hai bên (điều, khoản), để khi cần trao đổi với cơ quan tiếp nhận bạn có căn cứ rõ ràng.

Trình tự này không giúp bạn tự tuyên bố một văn bản là trái luật, việc đó thuộc thẩm quyền của cơ quan có trách nhiệm kiểm tra, xử lý văn bản. Nhưng nó giúp bạn đặt câu hỏi đúng chỗ, và rất thường xuyên, nó cho thấy văn bản cấp dưới hoàn toàn có căn cứ, chỉ là người đọc chưa thấy dòng giao việc ở văn bản trên.

Những tín hiệu đáng để ý trong phần căn cứ

Đọc nhiều phần căn cứ, bạn sẽ quen với mẫu chung và nhận ra ngay những chỗ khác thường. Một số tín hiệu nên dừng lại xem kỹ:

  • Văn bản cấp dưới không căn cứ vào văn bản chuyên ngành nào, chỉ căn cứ vào văn bản về thẩm quyền chung. Khi đó cần xem nội dung văn bản có phải là việc cơ quan đó được tự quy định hay không.
  • Dòng căn cứ ghi cụ thể "khoản…, Điều…" của luật. Đây là tín hiệu tốt, cho biết chính xác điều giao việc; bạn chỉ cần mở đúng điều đó để đối chiếu.
  • Phần căn cứ nêu nhiều luật thuộc các lĩnh vực khác nhau. Văn bản có thể đang xử lý một vấn đề giao thoa, ví dụ vừa xây dựng vừa phòng cháy; khi đọc nên tách nội dung theo từng luật gốc.
  • Có dòng căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về một cơ chế riêng. Văn bản có thể đang thực hiện một chính sách thí điểm, đặc thù, phạm vi áp dụng thường hẹp và có thời hạn.
  • Văn bản của tỉnh căn cứ vào văn bản trung ương giao "Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định…". Đây là dấu hiệu nội dung đó là phần địa phương được giao, mức hay điều kiện có thể khác giữa các tỉnh.

Những tín hiệu này không phải là lỗi, chỉ là gợi ý để bạn biết nên mở văn bản nào tiếp và đọc với tâm thế gì. Người đọc quen sẽ thấy phần căn cứ nói được nhiều hơn những gì nó viết ra.

Phần căn cứ không phải là phần áp dụng

Một hiểu lầm hay gặp là coi các văn bản trong phần căn cứ như những văn bản "đi kèm" phải áp dụng cùng. Thực ra phần căn cứ chỉ nói văn bản này được dựng trên nền nào, không nói việc của bạn phải theo những văn bản đó. Văn bản được áp dụng cho một việc cụ thể được xác định qua phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và nội dung các điều, không qua danh sách căn cứ.

Ngược lại, không phải mọi văn bản liên quan đều được liệt kê ở phần căn cứ. Một nghị định về điều kiện kinh doanh có thể không căn cứ vào luật về xử lý vi phạm, nhưng hành vi vi phạm điều kiện đó vẫn bị xử lý theo văn bản xử phạt riêng. Muốn biết đủ các văn bản chi phối một việc, bạn phải tra theo chủ đề, không chỉ lần theo phần căn cứ của một văn bản.

Cũng có lúc bạn gặp văn bản căn cứ vào một văn bản mà sau này đã được thay. Văn bản căn cứ bị thay không tự động làm văn bản cấp dưới mất hiệu lực; tình trạng đó cần kiểm riêng theo quy định về hiệu lực, không suy ra từ phần căn cứ. Với người đọc thông thường, điều quan trọng là đừng dừng ở văn bản ghi trong phần căn cứ mà quên tìm văn bản đang thay nó.

Ví dụ giả định: đọc phần căn cứ của một thông tư hướng dẫn

Giả sử bạn cầm một thông tư mà phần căn cứ có năm dòng: một luật chuyên ngành, một nghị định quy định chi tiết luật đó, một nghị định quy định chức năng của bộ, một dòng "Theo đề nghị của Cục trưởng…" và câu ban hành. Đây là ví dụ giả định để luyện cách đọc, không gắn với văn bản thật nào.

Dòng thứ ba và câu ban hành cho bạn biết bộ trưởng ký thông tư này với thẩm quyền của một thành viên Chính phủ quản lý ngành. Dòng thứ nhất và thứ hai là căn cứ về nội dung: thông tư đứng ở tầng thứ ba, dưới nghị định và luật. Dòng thứ tư cho biết cục nào chủ trì, nên nếu cần hỏi cách hiểu, bạn biết cơ quan nào nắm rõ nhất. Câu hỏi đầu tiên nên đặt ra là nghị định ở dòng thứ hai giao cho bộ quy định những gì, vì thông tư chỉ được đi trong phạm vi đó.

Chỉ với năm dòng, bạn đã có sơ đồ ba tầng của chủ đề, biết văn bản nào cần mở tiếp và biết hỏi ai. Đó là lý do người làm pháp chế lâu năm luôn đọc phần căn cứ trước khi đọc Điều 1.

Câu hỏi thường gặp

Phần căn cứ có bắt buộc phải có trong văn bản quy phạm không?

Văn bản quy phạm pháp luật có phần căn cứ ban hành theo yêu cầu về thể thức và kỹ thuật trình bày. Phần này giúp thể hiện văn bản được ban hành đúng thẩm quyền và dựa trên văn bản cấp trên. Mức độ chi tiết của phần căn cứ thay đổi theo loại văn bản.

Văn bản ghi sai căn cứ thì có bị coi là trái pháp luật không?

Việc đánh giá một văn bản có sai sót về căn cứ, thể thức hay nội dung, và hệ quả của sai sót đó, thuộc thẩm quyền của cơ quan kiểm tra, xử lý văn bản. Người dân và doanh nghiệp có thể phản ánh, kiến nghị khi phát hiện bất hợp lý, nhưng không tự ý bỏ không áp dụng.

Dòng "Theo đề nghị của" có ý nghĩa gì với người đọc?

Dòng này cho biết cơ quan, đơn vị chủ trì soạn thảo và trình văn bản. Đây thường là nơi hiểu rõ nhất ý định của quy định và hay được giao hướng dẫn, giải đáp. Khi cần hỏi cách áp dụng, đó là địa chỉ hợp lý để bắt đầu.

Có cần mở hết các văn bản trong phần căn cứ không?

Không cần. Với nhu cầu thông thường, bạn chỉ mở văn bản căn cứ về nội dung có liên quan trực tiếp tới quy định đang đọc. Các dòng về thẩm quyền và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật chỉ cần biết là có, ít khi phải đọc lại.

Luật chỉ căn cứ Hiến pháp, vậy luật có cần phù hợp với luật khác không?

Luật phải phù hợp Hiến pháp. Giữa các luật cùng tầng, khi có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, việc áp dụng theo các nguyên tắc riêng về chọn văn bản áp dụng và quy định của chính các luật đó. Phần căn cứ của luật không giải quyết câu hỏi này.

Văn bản của tỉnh có ghi căn cứ vào văn bản của trung ương không?

Có. Văn bản quy phạm của tỉnh, xã thường căn cứ vào luật về tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và luật hoặc nghị định giao cho địa phương quy định. Dòng căn cứ này giúp bạn biết nội dung nào địa phương được phép quy định.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.