Phạm vi điều chỉnh trả lời câu hỏi "văn bản này nói về việc gì", còn đối tượng áp dụng trả lời "ai phải làm theo văn bản này". Hai nội dung này thường nằm ở Điều 1 và Điều 2, và chỉ cần đọc chúng là bạn biết văn bản có liên quan tới việc của mình hay không, trước khi đọc bất kỳ quy định chi tiết nào.
Nhiều câu hỏi pháp lý của người kinh doanh nhỏ bắt đầu sai từ chỗ này: đọc kỹ một nghị định về điều kiện kinh doanh, lo lắng chuẩn bị hồ sơ, rồi mới phát hiện văn bản chỉ áp cho doanh nghiệp quy mô nhất định hoặc loại trừ hộ kinh doanh. Bài này hướng dẫn đọc hai điều đầu cho kỹ, nhận ra các câu loại trừ và tự kiểm văn bản có áp cho việc của bạn.
Hai điều đầu tiên của hầu hết văn bản
Trong luật, nghị định, thông tư, Điều 1 gần như luôn mang tên "Phạm vi điều chỉnh", Điều 2 mang tên "Đối tượng áp dụng". Một số văn bản gộp hai nội dung vào một điều tên "Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng". Văn bản sửa đổi, bổ sung thường không có hai điều này vì đã dùng phạm vi của văn bản gốc.
Hai điều này nằm trong chương những quy định chung, cùng với điều giải thích từ ngữ, các nguyên tắc chung và đôi khi một điều về áp dụng pháp luật. Chương này ngắn nhưng chi phối toàn bộ phần sau. Mọi quy định ở chương giữa chỉ có ý nghĩa trong khuôn khổ việc và người mà hai điều đầu đã khoanh lại.
Với người đọc vội, quy tắc rất gọn: chưa đọc hai điều đầu thì chưa kết luận văn bản áp cho mình. Ngay cả khi tiêu đề văn bản nghe rất trúng việc của bạn, phạm vi thật có thể hẹp hơn hoặc lệch đi. Ngược lại, có văn bản tiêu đề nghe xa nhưng đối tượng áp dụng lại bao gồm bạn, chẳng hạn một văn bản về quản lý chất thải áp cho cả cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống.
Phạm vi điều chỉnh: văn bản nói về việc gì
Câu thường gặp ở Điều 1 có dạng "Luật này quy định về…", "Nghị định này quy định chi tiết…", "Thông tư này hướng dẫn…". Phần sau chữ "quy định về" là một danh sách các việc, các quan hệ xã hội mà văn bản đặt ra quy tắc. Mỗi mục trong danh sách thường tương ứng với một chương hoặc một nhóm điều ở phần sau, nên đọc kỹ Điều 1 cũng là cách đoán trước bố cục.
Với văn bản quy định chi tiết, phạm vi điều chỉnh thường liệt kê chính xác những điều, khoản của văn bản cấp trên được chi tiết hoá. Ví dụ giả định: "Nghị định này quy định chi tiết khoản 3 Điều 12, Điều 20 và khoản 2 Điều 31 của Luật…". Một dòng như vậy rất quý: bạn biết ngay nghị định không bàn các điều khác của luật, và nếu việc của bạn nằm ở điều khác thì phải tìm văn bản khác.
Phạm vi điều chỉnh cũng có thể nêu ra những việc văn bản không điều chỉnh, thường bằng một khoản riêng như "Nghị định này không điều chỉnh…". Đây là chỗ phải đọc chậm. Ví dụ giả định, một nghị định về quản lý hoạt động quảng cáo có thể loại trừ một số loại thông tin không bị coi là quảng cáo; nếu việc của bạn nằm trong phần loại trừ, bạn đi tìm quy định ở nơi khác.
Đối tượng áp dụng: ai phải làm theo
Danh sách chủ thể. Điều 2 thường liệt kê theo nhóm: cơ quan nhà nước có liên quan, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Hãy tìm xem nhóm của bạn, hộ kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã, người lao động hay người dân, có được nêu tên trực tiếp hoặc nằm trong một cụm khái quát hay không.
Điều kiện gắn với chủ thể. Nhiều văn bản không áp cho mọi tổ chức, cá nhân mà chỉ cho người đang làm một việc nhất định, ví dụ giả định "tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm thuộc danh mục…". Chữ "thuộc danh mục" kéo bạn sang một phụ lục, và chỉ khi tra danh mục đó mới biết mình có trong diện hay không.
Cơ quan nhà nước cũng là đối tượng. Văn bản thường áp cho cả cơ quan quản lý, cán bộ thực thi. Đọc phần này giúp bạn biết cơ quan nào có nghĩa vụ tiếp nhận, giải quyết, trả lời, nên khi làm việc bạn biết yêu cầu đúng người.
Câu "và các tổ chức, cá nhân có liên quan". Cụm khái quát này mở rộng phạm vi tới những người có quan hệ với hoạt động được điều chỉnh. Nó không có nghĩa ai cũng phải làm mọi việc trong văn bản; nghĩa vụ cụ thể vẫn do từng điều quy định cho từng loại chủ thể.
Ví dụ giả định: một cửa hàng nhỏ đọc hai điều đầu
Chị chủ một cửa hàng bán đồ khô ở Vĩnh Long nghe nói có văn bản mới về truy xuất nguồn gốc hàng hoá và lo phải làm thêm nhiều giấy tờ. Đây là ví dụ giả định để minh hoạ cách đọc, không gắn với văn bản cụ thể nào. Thay vì đọc ngay các điều về hồ sơ, chị mở Điều 1 và thấy văn bản quy định về truy xuất đối với một số nhóm sản phẩm, hàng hoá nhất định, kèm câu dẫn sang một phụ lục danh mục.
Chị chuyển sang Điều 2: đối tượng áp dụng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm thuộc danh mục và cơ quan quản lý có liên quan. Câu hỏi lúc này không còn là "phải làm gì" mà là "hàng của mình có trong danh mục không". Chị tra phụ lục, đối chiếu từng mặt hàng đang bán, đánh dấu những mặt hàng có tên trong danh mục.
Kết quả có hai khả năng. Nếu không mặt hàng nào thuộc danh mục, văn bản này chưa đặt nghĩa vụ trực tiếp cho cửa hàng, chị chỉ cần theo dõi khi danh mục được mở rộng. Nếu có, chị biết chính xác những mặt hàng nào cần lưu ý và đọc tiếp các điều về nghĩa vụ với đúng những mặt hàng đó. Trong cả hai trường hợp, chị đã tiết kiệm được việc đọc mấy chục điều không liên quan.
Câu loại trừ và câu dẫn sang luật khác
Bên cạnh phạm vi và đối tượng, chương quy định chung hay có một điều hoặc một khoản nói về áp dụng pháp luật. Câu thường gặp là trường hợp luật khác có quy định đặc thù về cùng vấn đề thì áp dụng theo luật đó, hoặc trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng điều ước. Đây là những câu đổi hướng: chúng báo cho bạn biết có thể có văn bản khác ưu tiên hơn cho trường hợp của mình.
Gặp câu kiểu này, đừng dừng ở văn bản đang đọc. Hãy tự hỏi lĩnh vực của mình có luật chuyên ngành riêng không, chẳng hạn ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, y tế, giáo dục thường có quy định đặc thù về tổ chức và hoạt động. Câu hỏi luật chung với luật chuyên ngành áp dụng thế nào là một kỹ năng đọc riêng, nhưng ít nhất bạn đã biết phải tìm.
Các câu loại trừ khác như "không áp dụng đối với…", "trừ trường hợp…" cũng có thể nằm ngay trong Điều 2. Người đọc nên đánh dấu chúng bằng màu riêng, vì đây là nơi quyết định bạn có nằm trong vòng của văn bản hay không, và cũng là chỗ hay bị bỏ qua nhất khi đọc nhanh trên điện thoại.
Tự kiểm văn bản có áp cho việc của bạn
Bảng câu hỏi dưới giúp bạn đi qua hai điều đầu một cách có hệ thống. Trả lời lần lượt, mỗi câu "không" là một tín hiệu để dừng lại và kiểm kỹ trước khi tiếp tục.
| Câu hỏi | Tìm ở đâu | Nếu câu trả lời là không |
|---|---|---|
| Việc bạn đang làm có nằm trong danh sách "quy định về" không? | Điều 1 | Văn bản có thể không điều chỉnh việc này; tìm văn bản khác |
| Việc đó có bị loại trừ không? | Khoản loại trừ trong Điều 1 hoặc Điều 2 | Nếu bị loại trừ, tìm quy định riêng cho trường hợp đó |
| Bạn thuộc nhóm chủ thể được liệt kê không? | Điều 2 | Đọc kỹ cụm khái quát; nếu vẫn không thuộc thì văn bản không đặt nghĩa vụ cho bạn |
| Có điều kiện về quy mô, danh mục, ngành nghề không? | Điều 2 và phụ lục được dẫn chiếu | Tra danh mục trước khi kết luận |
| Có câu dẫn sang luật chuyên ngành, điều ước không? | Điều về áp dụng pháp luật | Kiểm thêm văn bản chuyên ngành của lĩnh vực mình |
Khi cả năm câu đều trả lời có hoặc chưa rõ, bạn mới đọc tiếp phần chi tiết. Nếu nhiều câu còn chưa rõ, đó là lúc nên hỏi cơ quan tiếp nhận hồ sơ hoặc người làm nghề, mang theo đúng hai điều đầu của văn bản để câu hỏi cụ thể.
Lỗi hay gặp khi bỏ qua hai điều đầu
Những tình huống dưới đây đều có thể tránh được nếu đọc Điều 1 và Điều 2 trước:
- Chuẩn bị hồ sơ theo một nghị định về điều kiện kinh doanh, trong khi phạm vi chỉ áp cho loại hình doanh nghiệp, không áp cho hộ kinh doanh, hoặc ngược lại.
- Hiểu một thông tư áp cho mọi cơ sở, trong khi đối tượng chỉ là cơ sở thuộc danh mục ở phụ lục.
- Đọc văn bản chung về một lĩnh vực mà không biết ngành mình có luật chuyên ngành quy định khác.
- Tranh luận với đối tác dựa trên một nghị định chi tiết điều khác của luật, không phải điều liên quan tới hợp đồng giữa hai bên.
- Cho rằng mình không chịu nghĩa vụ vì không thấy tên loại hình của mình, trong khi cụm "tổ chức, cá nhân có hoạt động…" đã bao gồm.
Cả năm lỗi chung một nguyên nhân: nhảy thẳng vào điều có từ khoá mình cần. Thói quen đọc hai điều đầu không tốn quá vài phút nhưng giúp mọi phần đọc sau đứng trên nền đúng.
Câu hỏi thường gặp
Văn bản nào cũng có điều phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng không?
Phần lớn văn bản quy phạm có, thường ở Điều 1 và Điều 2 hoặc gộp trong một điều. Văn bản sửa đổi, bổ sung và văn bản bãi bỏ thường không có vì chúng gắn với phạm vi của văn bản gốc. Khi không thấy, hãy đọc trích yếu và văn bản gốc.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng khác nhau thế nào?
Phạm vi điều chỉnh nói về việc, tức những quan hệ, hoạt động mà văn bản đặt ra quy tắc. Đối tượng áp dụng nói về người, tức những cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo. Bạn cần thoả cả hai: việc của mình nằm trong phạm vi và mình thuộc đối tượng.
Không thấy tên hộ kinh doanh trong đối tượng áp dụng thì có phải làm theo không?
Cần xem các cụm khái quát như "tổ chức, cá nhân có hoạt động…" vì hộ kinh doanh thường nằm trong đó. Nếu văn bản ghi rõ chỉ áp cho doanh nghiệp hoặc loại trừ hộ kinh doanh thì khác. Trường hợp chưa rõ, nên hỏi cơ quan quản lý lĩnh vực.
Câu "trường hợp luật khác có quy định khác" có nghĩa văn bản này không áp dụng?
Không hẳn. Câu này cho biết khi một luật khác có quy định riêng về cùng vấn đề thì phần riêng đó được ưu tiên theo cách văn bản đã nêu. Những phần luật khác không quy định vẫn áp dụng văn bản đang đọc. Phải xem cụ thể từng nội dung.
Đối tượng áp dụng có cơ quan nhà nước thì người dân được lợi gì?
Khi cơ quan nhà nước là đối tượng áp dụng, văn bản thường đặt nghĩa vụ cho họ như tiếp nhận, giải quyết đúng hạn, công khai thông tin. Biết điều này giúp bạn yêu cầu đúng việc, đúng nơi và dẫn được quy định khi cần đề nghị cơ quan thực hiện.
Văn bản quy định chi tiết có phạm vi rộng hơn luật được không?
Văn bản quy định chi tiết phải nằm trong nội dung mà văn bản cấp trên giao. Khi thấy phạm vi của nghị định, thông tư có vẻ rộng hơn nội dung được giao, bạn nên đối chiếu điều giao việc trong văn bản cấp trên. Việc kết luận văn bản sai thuộc thẩm quyền cơ quan kiểm tra văn bản.