Bộ luật và các luật dài được sắp theo kiểu "chung trước, riêng sau": phần hoặc chương đầu đặt ra những quy định áp cho mọi trường hợp trong văn bản, các phần sau quy định riêng cho từng loại việc. Vì vậy một điều cụ thể ở phần sau thường chỉ đúng nghĩa khi đọc cùng những quy định chung phía trước.
Người tự đọc luật hay tìm thẳng tới điều có tên đúng việc của mình, chẳng hạn điều về hợp đồng thuê, rồi dừng ở đó. Cách đọc này bỏ sót những quy tắc nằm ở phần chung như người đại diện ký thay, cách tính thời hạn hay khi nào giao dịch bị vô hiệu. Bài này giải thích cách các văn bản dài xếp tầng chung – riêng và một trình tự để lần từ điều riêng lên quy định chung. Bài chỉ nói về cấu trúc, không giảng nội dung từng chế định.
Chung trước, riêng sau: cách văn bản dài tự sắp xếp
Một bộ luật điều chỉnh rất nhiều loại việc khác nhau. Nếu mỗi loại việc đều viết lại từ đầu những quy tắc giống nhau, như ai đủ năng lực tham gia, uỷ quyền thế nào, thời hạn tính ra sao, văn bản sẽ dài gấp nhiều lần và dễ mâu thuẫn. Cách giải quyết là gom các quy tắc dùng chung lên đầu, viết một lần, rồi để các phần sau chỉ viết những gì riêng của từng loại việc.
Kỹ thuật này có tên gọi quen thuộc trong giới luật là phần chung và phần riêng. Phần chung trả lời những câu hỏi mà mọi loại việc đều gặp. Phần riêng trả lời những câu hỏi chỉ loại việc đó mới có. Khi phần riêng không nói gì về một vấn đề, câu trả lời thường nằm ở phần chung.
Nhờ vậy, khi quy tắc chung thay đổi, nhà làm luật chỉ cần sửa một chỗ và thay đổi đó tự lan tới mọi loại việc phía sau. Với người đọc, điều đó có nghĩa là một lần sửa ở phần chung có thể ảnh hưởng tới việc của bạn dù điều riêng không hề bị đụng tới.
Hiểu nguyên tắc này thay đổi cách bạn tìm câu trả lời. Không thấy quy định trong điều về loại việc của mình không có nghĩa là luật bỏ trống; rất có thể quy định đã nằm sẵn ở phần đầu văn bản. Ngược lại, khi phần riêng có quy định khác với phần chung, phần riêng thường được ưu tiên cho đúng loại việc đó, và bản thân văn bản hay nói rõ điều này.
Ví dụ bố cục của hai bộ luật quen thuộc
Bảng dưới tóm tắt cách chia phần của hai bộ luật mà người không học luật hay gặp. Tên phần ghi theo nội dung khái quát; khi trích dẫn, bạn đối chiếu văn bản gốc.
| Bộ luật | Các phần lớn | Phần chung nằm ở đâu |
|---|---|---|
| Bộ luật Dân sự 2015 | Quy định chung; quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản; nghĩa vụ và hợp đồng; thừa kế; pháp luật áp dụng với quan hệ có yếu tố nước ngoài; điều khoản thi hành | Phần thứ nhất, và thêm một lớp quy định chung trong từng phần sau |
| Bộ luật Hình sự 2015 | Những quy định chung; các tội phạm; điều khoản thi hành | Phần thứ nhất áp cho mọi tội ở phần thứ hai |
Cả hai đều mở bằng phần chung và khép bằng điều khoản thi hành. Phần lớn số điều nằm ở phần riêng, nhưng phần chung tuy ít điều hơn lại được dùng tới trong hầu hết mọi tình huống. Những luật không chia phần, như phần lớn các luật chuyên ngành, vẫn theo đúng mô hình này ở cấp chương.
Bảng cũng cho thấy một điều thực tế: khi tra một bộ luật lần đầu, bạn nên nhìn mục lục cấp phần trước khi tìm điều. Biết việc của mình thuộc phần nào giúp loại ngay những phần không liên quan, và biết phần chung nào phải đọc kèm. Với bộ luật có hàng trăm điều, bước này tiết kiệm nhiều thời gian hơn bất kỳ mẹo tìm kiếm nào.
Quy định chung áp cho phần sau ra sao: vài ví dụ dễ thấy
Cách tính thời hạn. Bộ luật Dân sự đặt quy định về cách tính thời hạn ở phần chung. Một hợp đồng thuê nhà nói "báo trước ba mươi ngày" thì ngày bắt đầu tính, ngày kết thúc được xác định theo quy định chung đó, dù các điều về hợp đồng thuê không nhắc lại.
Người đại diện ký thay. Ai được ký hợp đồng thay cho người khác, uỷ quyền thế nào, vượt phạm vi uỷ quyền thì sao: những câu này được quy định ở phần chung về đại diện, áp cho mọi loại hợp đồng ở phần sau.
Giao dịch vô hiệu. Điều kiện để một giao dịch có hiệu lực và các trường hợp vô hiệu nằm ở phần chung. Điều về hợp đồng mua bán không cần liệt kê lại; khi gặp tranh chấp về hiệu lực, người ta quay về phần chung.
Tuổi, lỗi và thời hiệu trong luật hình sự. Ở Bộ luật Hình sự, các vấn đề như tuổi chịu trách nhiệm, lỗi, các tình tiết, thời hiệu được đặt ở phần chung và áp cho mọi tội ở phần các tội phạm. Đọc một điều về tội danh mà bỏ phần chung là hiểu thiếu; đây cũng là lĩnh vực nên hỏi luật sư khi có việc thật.
Tầng chung lồng trong tầng riêng
Mô hình chung – riêng không chỉ có một lớp. Trong Bộ luật Dân sự, phần về nghĩa vụ và hợp đồng lại có các quy định chung về nghĩa vụ, các quy định chung về hợp đồng, rồi mới tới nhóm hợp đồng thông dụng như mua bán, thuê, vay, gửi giữ, dịch vụ. Một điều về hợp đồng thuê vì vậy nằm dưới ba lớp: quy định riêng của hợp đồng thuê, quy định chung về hợp đồng, và phần thứ nhất của bộ luật.
Khi bạn có câu hỏi về hợp đồng thuê, thứ tự đọc hợp lý là đi từ lớp hẹp nhất ra ngoài: các điều riêng về thuê trước, nếu không có câu trả lời thì sang quy định chung về hợp đồng, rồi tới phần chung của bộ luật. Mỗi lớp ngoài bổ sung cho lớp trong, trừ khi lớp trong đã quy định khác.
Cách xếp lớp này cũng có trong luật chuyên ngành và nghị định. Một nghị định về điều kiện kinh doanh nhiều ngành có thể có chương quy định chung về hồ sơ, thủ tục, rồi từng chương riêng cho từng ngành chỉ ghi điều kiện đặc thù. Đọc chương riêng cho ngành mình mà quên chương chung là thiếu nửa hồ sơ.
Luật không chia phần vẫn có phần chung
Phần lớn các luật, nghị định không đủ dài để chia thành phần. Chúng dùng chương làm đơn vị lớn nhất, và chương đầu tiên gần như luôn là "Những quy định chung". Chương này thường gồm phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ, các nguyên tắc, các hành vi bị nghiêm cấm và đôi khi chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực đó.
Hai mục trong chương này đáng chú ý đặc biệt với người làm thủ tục và kinh doanh. Điều về các hành vi bị nghiêm cấm thường được viết một lần cho toàn luật; các chương sau ít khi nhắc lại, nhưng mọi hoạt động đều phải tránh những hành vi đó. Các nguyên tắc chung, dù viết ngắn và có vẻ trừu tượng, là cơ sở để hiểu những quy định cụ thể phía sau khi câu chữ chưa rõ.
Chương cuối là điều khoản thi hành, còn các chương giữa là phần riêng, mỗi chương một nhóm việc. Biết mô hình này, bạn có thể dựng mục lục của một luật lạ trong vài phút: chương đầu đọc kỹ, chương giữa chọn đúng nhóm việc của mình, chương cuối đọc để biết hiệu lực và chuyển tiếp.
Lần từ một điều riêng lên quy định chung
Khi đã tìm được điều trực tiếp nói về việc của mình, trình tự dưới đây giúp bạn không bỏ sót các quy định chung có liên quan:
- Ghi lại địa chỉ điều đang đọc và xem nó nằm trong phần, chương, mục nào.
- Đọc tên mục và tên chương chứa nó; nếu mục hoặc chương có các điều "quy định chung" ở đầu, đọc các điều đó.
- Lên phần hoặc chương đầu của văn bản, đọc lướt tên các điều để tìm những vấn đề chung có thể dính tới việc của bạn: chủ thể, đại diện, thời hạn, hiệu lực, hành vi bị cấm.
- Đọc kỹ những điều chung có liên quan và kiểm xem điều riêng có quy định khác không.
- Xem điều riêng có câu dẫn chiếu sang điều chung nào không, như "theo quy định tại Điều… của Bộ luật này".
- Ghi kết quả thành hai lớp: quy định riêng áp cho việc của bạn, và quy định chung bổ sung.
Trình tự này không làm bạn thành người hiểu luật trong một buổi, nhưng nó giúp tránh lỗi phổ biến nhất của người tự đọc: trả lời một câu hỏi bằng một điều đơn lẻ trong khi câu trả lời đúng cần ghép hai ba tầng.
Lỗi hay gặp khi chỉ đọc phần riêng
Những tình huống dưới đây đều bắt nguồn từ việc đọc điều riêng mà không lên phần chung:
- Kết luận "luật không quy định" về một vấn đề, trong khi vấn đề đó đã có ở phần chung.
- Tính sai thời hạn báo trước, thời hạn khiếu nại vì không biết cách tính thời hạn nằm ở phần chung.
- Cho rằng hợp đồng do người không có thẩm quyền ký vẫn đương nhiên ràng buộc, vì điều về loại hợp đồng đó không nhắc tới đại diện.
- Không biết một hành vi bị cấm vì danh sách cấm nằm ở chương đầu chứ không ở chương về hoạt động của mình.
- Áp quy định chung trong khi phần riêng đã có quy định khác cho đúng loại việc.
Lỗi cuối là chiều ngược lại và cũng hay gặp: đọc phần chung kỹ rồi quên rằng phần riêng có thể điều chỉnh khác. Đọc đủ cả hai tầng và để ý các câu "trừ trường hợp" là cách cân bằng. Với tình huống có tranh chấp hoặc số tiền lớn, nên nhờ luật sư rà lại cách ghép.
Câu hỏi thường gặp
Phần chung và phần riêng có phải là thuật ngữ chính thức trong luật không?
Đây là cách gọi phổ biến trong giới học luật và hành nghề để chỉ cách sắp xếp văn bản. Tên chính thức của từng phần do văn bản đặt, như "Quy định chung" hay "Những quy định chung". Nội dung cách sắp xếp thì thống nhất trong phần lớn bộ luật và luật dài.
Khi phần riêng và phần chung nói khác nhau thì theo phần nào?
Thông thường, quy định riêng cho đúng loại việc được áp dụng cho loại việc đó, còn phần chung áp dụng cho những gì phần riêng không quy định. Văn bản thường nói rõ điều này. Khi chưa chắc, nên đối chiếu câu chữ cụ thể hoặc hỏi người làm nghề.
Luật chuyên ngành có phần chung riêng không?
Có, ở cấp chương. Chương đầu của luật chuyên ngành thường là những quy định chung gồm phạm vi, đối tượng, giải thích từ ngữ, nguyên tắc và hành vi bị cấm. Các chương giữa là quy định riêng cho từng nhóm việc.
Đọc Bộ luật Dân sự nên bắt đầu từ đâu?
Nếu có việc cụ thể, bắt đầu từ điều trực tiếp về việc đó, rồi lần lên quy định chung của nhóm và phần thứ nhất. Nếu muốn học có hệ thống, đọc phần thứ nhất trước vì các phần sau dùng lại các khái niệm ở đó.
Nghị định có phần chung không?
Nghị định dài thường có chương quy định chung ở đầu, gồm phạm vi, đối tượng và đôi khi quy định chung về hồ sơ, thủ tục. Các chương sau đi vào từng nhóm việc. Đọc chương riêng cho việc của mình mà bỏ chương chung dễ thiếu yêu cầu.
Có cách nào biết điều riêng đã có quy định khác với phần chung không?
Đọc kỹ điều riêng và để ý các cụm như "trừ trường hợp", "không áp dụng quy định tại", "theo quy định riêng". Những cụm này báo hiệu sự khác biệt. Nếu điều riêng im lặng về một vấn đề, phần chung thường được áp dụng.