Cùng một chữ có thể mang nghĩa khác nhau trong hai luật khác nhau, và nghĩa đúng là nghĩa của văn bản đang điều chỉnh việc bạn cần làm. "Hộ gia đình" trong việc sử dụng đất, trong việc cư trú và trong việc kinh doanh không nhất thiết chỉ cùng một nhóm người. "Người lao động" trong quan hệ lao động và trong bảo hiểm có thể rộng hẹp khác nhau. Đây không phải lỗi soạn thảo mà là hệ quả của việc mỗi luật quản lý một khía cạnh riêng của đời sống.
Với người không học luật, hiện tượng này gây ra một kiểu nhầm rất khó nhận ra: đọc đúng định nghĩa, nhưng định nghĩa của văn bản khác. Bài giải thích vì sao các luật định nghĩa khác nhau, những nhóm từ hay vênh nghĩa, cách xác định văn bản nào điều chỉnh việc của bạn, và cách ghi khái niệm cho rõ trong hợp đồng, hồ sơ để không bị hiểu lệch.
Vì sao hai luật định nghĩa cùng một chữ khác nhau
Mỗi luật được soạn để giải quyết một nhóm vấn đề. Luật về đất đai cần biết ai cùng có quyền với một thửa đất, nên khi nói "hộ gia đình" nó quan tâm tới quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và việc cùng có quyền sử dụng đất. Luật về cư trú cần biết ai cùng đăng ký ở một chỗ, nên trọng tâm là nơi ở. Một văn bản về kinh doanh lại quan tâm tới việc ai đứng tên, ai chịu trách nhiệm. Cùng một chữ nhưng ba câu hỏi khác nhau, nên ba định nghĩa khác nhau là bình thường.
Ngoài ra, các luật được ban hành ở những thời điểm khác nhau, do những cơ quan chủ trì soạn thảo khác nhau. Khi luật mới ra đời, người soạn có thể chọn định nghĩa lại một khái niệm cho hợp với mục tiêu mới mà không sửa các luật cũ. Kết quả là trong cùng một hệ thống tồn tại nhiều định nghĩa song song, mỗi cái đúng trong phạm vi của nó.
Điều này khác với tình huống hai văn bản mâu thuẫn nhau về cùng một nghĩa vụ. Khác nghĩa giữa hai luật điều chỉnh hai việc khác nhau không phải mâu thuẫn; mỗi luật cứ áp cho việc của nó. Khi hai văn bản thật sự quy định khác nhau về cùng một việc, câu hỏi áp văn bản nào thuộc chủ đề hiệu lực văn bản, trang Hiệu Lực viết riêng.
Những nhóm từ hay vênh nghĩa giữa các văn bản
Bảng nêu các nhóm từ người dân và doanh nghiệp nhỏ hay gặp, kèm câu hỏi cần đặt ra. Bảng không chép định nghĩa của văn bản cụ thể nào; định nghĩa thật phải đọc trong văn bản hiện hành bạn đang áp dụng.
| Nhóm từ | Vì sao dễ vênh | Câu hỏi nên đặt |
|---|---|---|
| Hộ gia đình, thành viên hộ | Mỗi lĩnh vực xác định thành viên theo tiêu chí khác: cùng quyền tài sản, cùng nơi ở, cùng sổ đăng ký | Văn bản nào đang điều chỉnh tài sản hay thủ tục của bạn, và nó tính thành viên theo tiêu chí gì? |
| Người lao động, người làm việc | Có văn bản chỉ tính người có hợp đồng lao động, có văn bản tính rộng hơn | Quan hệ của bạn với bên kia là hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ hay quan hệ khác? |
| Nhà ở, công trình, nhà xưởng | Văn bản về xây dựng, nhà ở, phòng cháy, thuế nhìn công trình theo mục đích khác nhau | Văn bản này phân loại công trình theo công năng, quy mô hay mục đích sử dụng? |
| Doanh nghiệp nhỏ, cơ sở kinh doanh | Tiêu chí quy mô có thể theo lao động, doanh thu, nguồn vốn, hoặc theo đăng ký | Tiêu chí ở văn bản nào, và bạn đo theo năm nào, số liệu nào? |
| Người tiêu dùng, khách hàng | Có văn bản tính cả người dùng không trả tiền, có văn bản chỉ người mua | Bạn là người mua, người dùng, hay cả hai? |
| Trẻ em, người chưa thành niên | Các văn bản dùng mốc tuổi khác nhau cho mục đích khác nhau | Văn bản này dùng mốc tuổi nào, tính tới ngày nào? |
Nhóm cuối là ví dụ dễ thấy nhất: "trẻ em" và "người chưa thành niên" là hai khái niệm khác nhau, được dùng ở những văn bản khác nhau với mốc tuổi khác nhau. Người đọc nhầm hai chữ này với nhau sẽ áp sai quy định bảo vệ hay sai năng lực tự ký giấy tờ.
Xác định nghĩa đúng cho việc của bạn: năm bước
Khi một chữ quan trọng xuất hiện trong việc của bạn và bạn thấy nó được định nghĩa ở nhiều nơi, đi theo trình tự sau để chọn đúng nghĩa.
- Viết một câu mô tả việc cần làm, ví dụ giả định: "tách thửa đất đứng tên hộ", "đăng ký thường trú cho con", "đóng bảo hiểm cho người phụ việc". Câu này cho biết lĩnh vực.
- Xác định văn bản chính điều chỉnh lĩnh vực đó, thường là một luật chuyên ngành và các nghị định, thông tư đi kèm.
- Mở điều giải thích từ ngữ của văn bản chính, tìm chữ đang cần. Nếu văn bản chính không định nghĩa, xem nghị định quy định chi tiết của nó.
- Kiểm từng dấu hiệu trong định nghĩa với sự kiện của mình, ghi rõ dấu hiệu nào khớp, dấu hiệu nào chưa có giấy tờ chứng minh.
- Chỉ khi văn bản chính và văn bản hướng dẫn đều không định nghĩa, mới xét tới định nghĩa trong luật chung hoặc nghĩa thông thường, và ghi chú rằng đây là cách hiểu chưa có căn cứ trực tiếp.
Bước năm hay bị đảo lên đầu: người đọc nhớ một định nghĩa quen từ lần làm việc trước và dùng luôn. Một nghĩa quen thuộc từ thủ tục đất đai đem sang thủ tục cư trú có thể dẫn tới chuẩn bị sai giấy tờ và phải đi lại nhiều lần.
Ba tình huống hay gặp, ví dụ giả định
Hộ gia đình đứng tên đất và hộ trong sổ cư trú. Ví dụ giả định: một gia đình ở Đồng Tháp được cấp đất từ nhiều năm trước, ghi tên "hộ". Sau đó có thành viên chuyển đi nơi khác, có người mới nhập hộ khẩu. Người nhập sau không đương nhiên là người cùng có quyền với thửa đất, vì quyền với đất được xác định theo văn bản về đất đai và thời điểm hình thành quyền, không theo danh sách cư trú hiện tại. Khi chia, tặng hay bán, phải tra đúng khái niệm của văn bản về đất đai.
Người phụ việc ở tiệm. Ví dụ giả định: chủ một tiệm sửa xe ở Lâm Đồng có hai người phụ việc theo ngày, không ký hợp đồng. Khi đọc văn bản về bảo hiểm hay về lao động, chủ tiệm cần biết văn bản đó gọi ai là "người lao động" và có tính quan hệ làm việc có trả công, có quản lý, điều hành hay không, chứ không dựa vào việc có giấy tờ ký hay chưa.
Quy mô "nhỏ" để hưởng hỗ trợ. Ví dụ giả định: một xưởng may ở Hưng Yên muốn hưởng chính sách cho doanh nghiệp nhỏ. Văn bản về hỗ trợ có tiêu chí riêng về lao động, doanh thu hoặc nguồn vốn, và tiêu chí đó có thể khác với cách một văn bản về thuế hay về thống kê phân loại. Xưởng phải đo theo đúng tiêu chí của văn bản hỗ trợ, với đúng kỳ số liệu văn bản yêu cầu.
Ghi khái niệm cho rõ trong hợp đồng, nội quy và đơn từ
Khi bạn viết giấy tờ có dùng một khái niệm hay vênh nghĩa, cách an toàn là chỉ rõ nghĩa theo văn bản nào. Ví dụ, thay vì viết "các thành viên trong hộ đồng ý", hãy liệt kê tên từng người và tư cách của họ, rồi ghi căn cứ là văn bản về đất đai nếu đây là giao dịch về đất. Liệt kê tên người cụ thể luôn rõ hơn dùng một danh từ tập thể.
Trong hợp đồng giữa doanh nghiệp với nhau, điều định nghĩa ở đầu hợp đồng nên nói rõ khái niệm được hiểu "theo quy định của pháp luật về…" hoặc tự định nghĩa bằng lời, kèm phạm vi "trong hợp đồng này". Cách sau hợp với khái niệm thương mại như "sản phẩm lỗi", "ngày làm việc", "khách hàng", vốn không có một định nghĩa pháp luật duy nhất.
Trong nội quy lao động hay quy chế công ty, khi dùng các chữ như "người lao động", "người quản lý", "thời gian làm việc", nên dùng đúng nghĩa của văn bản về lao động, và nếu muốn mở rộng cho cộng tác viên, thực tập sinh thì viết thêm một khoản riêng cho nhóm đó. Gộp mọi người vào một chữ có thể vô tình giao cho cộng tác viên những quyền và nghĩa vụ của quan hệ lao động.
Dấu hiệu bạn đang dùng nhầm định nghĩa
Những tín hiệu sau cho thấy nên dừng lại và tra lại khái niệm trước khi làm tiếp.
- Cán bộ tiếp nhận nói hồ sơ thiếu người ký hoặc thừa người ký so với hình dung của bạn về "thành viên".
- Hai văn bản bạn đọc dường như cùng nói về một chữ nhưng kết luận ngược nhau; thường chúng đang điều chỉnh hai việc khác nhau.
- Định nghĩa bạn đang dùng lấy từ một bài viết, video hay nhóm hỏi đáp, không ghi rõ văn bản gốc.
- Định nghĩa đến từ một thủ tục bạn từng làm nhiều năm trước, khi các văn bản liên quan có thể đã được thay.
- Việc của bạn chạm nhiều lĩnh vực cùng lúc, chẳng hạn vừa đất đai vừa thừa kế vừa kinh doanh.
Khi thấy một trong các dấu hiệu trên, đừng vội kết luận bên kia sai. Mở lại văn bản chính của lĩnh vực, đọc lại điều giải thích từ ngữ, rồi so với định nghĩa bạn đang dùng. Phần lớn trường hợp, chênh lệch nằm ngay ở đó và chỉ cần sửa cách hiểu là hồ sơ thông.
Với việc chạm nhiều lĩnh vực và có giá trị lớn, chẳng hạn chia tài sản đứng tên hộ, nên nhờ người làm nghề đọc cùng. Chi phí tư vấn thường nhỏ hơn rất nhiều so với chi phí sửa một giao dịch đã ký sai người, sai tư cách.
Câu hỏi thường gặp
Khi hai luật định nghĩa khác nhau thì luật nào đúng?
Cả hai có thể đều đúng trong phạm vi của mình. Mỗi định nghĩa áp cho văn bản chứa nó và các văn bản hướng dẫn văn bản đó. Bạn chọn định nghĩa của văn bản đang điều chỉnh việc mình cần làm. Chỉ khi hai văn bản cùng điều chỉnh một việc mà quy định khác nhau mới là chuyện văn bản nào được áp dụng.
Bộ luật Dân sự có phải là nơi định nghĩa chung cho mọi luật không?
Bộ luật Dân sự 2015 là luật chung cho các quan hệ dân sự và có nhiều khái niệm nền như năng lực, giao dịch, tài sản. Tuy vậy luật chuyên ngành có thể định nghĩa khái niệm theo cách riêng cho lĩnh vực của nó. Khi luật chuyên ngành đã định nghĩa, bạn dùng định nghĩa đó cho việc thuộc lĩnh vực ấy.
Cán bộ hiểu một chữ khác với cách bạn hiểu thì làm thế nào?
Đề nghị cán bộ chỉ rõ văn bản và điều khoản họ căn cứ, ghi lại tên văn bản. Đối chiếu với định nghĩa trong văn bản đó. Nếu vẫn thấy cách hiểu chưa đúng, bạn có thể đề nghị trả lời bằng văn bản để có căn cứ khiếu nại theo đúng đường của quyết định hành chính.
Có danh sách tổng hợp các định nghĩa trong mọi luật không?
Một số cơ sở dữ liệu và tài liệu tham khảo có tổng hợp thuật ngữ, nhưng đó chỉ là công cụ hỗ trợ. Giá trị pháp lý nằm ở văn bản gốc hiện hành. Khi dùng bảng tổng hợp, luôn mở văn bản gốc để kiểm câu chữ và kiểm văn bản đó còn đang được áp dụng.
Viết hợp đồng có nên chép nguyên định nghĩa trong luật vào không?
Có thể, nếu ghi rõ nguồn và chấp nhận rằng khi luật đổi định nghĩa thì câu chép trong hợp đồng không tự đổi theo. Cách khác là ghi "theo quy định của pháp luật về…" để nghĩa đi theo luật hiện hành. Chọn cách nào tuỳ việc hai bên muốn nghĩa cố định hay cập nhật theo luật.