Quy phạm bắt buộc là điều luật mà các bên phải tuân theo dù có thoả thuận khác hay không; quy phạm tuỳ nghi là điều luật chỉ áp dụng khi các bên không thoả thuận gì khác. Với người ký hợp đồng, phân biệt hai loại này là câu hỏi đầu tiên trước khi muốn viết một điều khoản lệch khỏi luật: lệch khỏi quy phạm tuỳ nghi là quyền của các bên, lệch khỏi quy phạm bắt buộc thì phần lệch có thể không được công nhận.
Văn bản pháp luật ít khi tự dán nhãn "điều này là bắt buộc". Người đọc phải nhận ra qua câu chữ: những cụm như "trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác", "nếu không có thoả thuận", "theo thoả thuận" báo hiệu tuỳ nghi; những cụm như "phải", "không được", "nghiêm cấm", "mọi thoả thuận trái… đều không có giá trị" báo hiệu bắt buộc. Bài đi qua các dấu hiệu này, những vùng thường là bắt buộc, kiểu quy định "mức sàn" trong quan hệ có bên yếu thế, và cách soạn điều khoản cho an toàn.
Vì sao luật có hai loại quy phạm
Pháp luật dân sự Việt Nam đặt nền trên nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận, với giới hạn là không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, như Bộ luật Dân sự 2015 ghi ở phần nguyên tắc cơ bản. Từ nguyên tắc đó, phần lớn quy định về hợp đồng được viết như phương án dự phòng: luật nói "nếu các bên không thoả thuận thì làm thế này", để hợp đồng sơ sài vẫn vận hành được.
Ở chiều ngược lại, có những lợi ích mà luật không để các bên tự định đoạt: an toàn của người khác, trật tự quản lý của nhà nước, quyền tối thiểu của bên yếu thế, hình thức bắt buộc của một số giao dịch. Ở những chỗ đó, luật viết quy định bắt buộc, và thoả thuận trái với nó không có giá trị dù hai bên đều tự nguyện ký.
Nhận ra loại quy phạm vì thế không chỉ là chuyện câu chữ mà là chuyện hiểu điều luật đang bảo vệ ai. Một điều luật bảo vệ chính hai bên ký, như cách tính thời điểm chuyển rủi ro khi giao hàng, thường là tuỳ nghi. Một điều luật bảo vệ người thứ ba hoặc lợi ích chung thường là bắt buộc.
Dấu hiệu câu chữ của hai loại quy phạm
Bảng liệt kê các cụm từ hay gặp. Đây là dấu hiệu thường gặp, không phải quy tắc tuyệt đối; luôn đọc cả câu và mục đích của điều.
| Dấu hiệu | Thường là | Ví dụ giả định | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| "trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác" | Tuỳ nghi | "Bên mua trả tiền tại nơi giao hàng, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác" | Dấu hiệu rõ nhất; quy định là phương án mặc định |
| "nếu không có thoả thuận", "trường hợp không có thoả thuận" | Tuỳ nghi | "Trường hợp không có thoả thuận về thời hạn thì…" | Luật chỉ lấp chỗ trống |
| "theo thoả thuận", "do các bên thoả thuận" | Tuỳ nghi, nhưng có thể kèm giới hạn | "Mức phạt do các bên thoả thuận, nhưng không vượt quá…" | Đọc kỹ vế "nhưng" — đó là phần bắt buộc |
| "phải", "có nghĩa vụ", "bắt buộc" | Thường bắt buộc | "Hợp đồng phải được lập thành văn bản và công chứng" | Kiểm có câu "trừ trường hợp…" đi kèm không |
| "không được", "nghiêm cấm" | Bắt buộc | "Không được thoả thuận về việc…" | Thoả thuận trái có thể vô hiệu phần đó |
| "mọi thoả thuận trái với… đều không có giá trị" | Bắt buộc, nói thẳng | "Thoả thuận làm giảm quyền của… không có giá trị" | Dấu hiệu dứt khoát nhất |
Dòng thứ ba là kiểu lai đáng chú ý: luật cho thoả thuận nhưng đặt trần hoặc sàn. Phần "do các bên thoả thuận" là tuỳ nghi, phần "không vượt quá" hay "không thấp hơn" là bắt buộc. Các bên tự do trong khoảng luật cho, không được bước ra ngoài khoảng đó.
Những vùng thường là quy định bắt buộc
Không có danh sách chính thức, nhưng người làm nghề thường gặp quy định bắt buộc ở những vùng sau. Gặp các vùng này, đừng mặc định là hai bên tự thoả thuận được.
- Hình thức giao dịch mà luật yêu cầu: hợp đồng phải lập thành văn bản, phải công chứng, chứng thực hoặc đăng ký ở một số loại tài sản.
- Điều kiện chủ thể: năng lực, độ tuổi, tư cách đại diện, điều kiện kinh doanh của ngành nghề có điều kiện.
- Quyền tối thiểu của người lao động, người tiêu dùng và những bên luật xác định cần được bảo vệ.
- Giới hạn chế tài: trần phạt vi phạm trong một số loại hợp đồng, giới hạn lãi suất trong hợp đồng vay.
- Nghĩa vụ với nhà nước: thuế, phí, lệ phí, báo cáo, đăng ký; hai bên không thoả thuận miễn cho nhau được.
- Quy định về an toàn, phòng cháy, môi trường, vệ sinh thực phẩm, nơi lợi ích của người thứ ba và cộng đồng bị ảnh hưởng.
Trong các vùng trên, câu chữ hợp đồng có thể chọn cách thực hiện chi tiết, nhưng không hạ được mức luật đã đặt. Ví dụ giả định: hai bên có thể thoả thuận ai lo thủ tục đăng ký, nhưng không thể thoả thuận rằng giao dịch phải đăng ký thì không cần đăng ký.
Quy định "mức sàn": được lệch, nhưng chỉ theo một chiều
Trong quan hệ có một bên thường yếu thế hơn, luật hay đặt mức tối thiểu cho bên yếu và cho phép các bên thoả thuận theo hướng có lợi hơn cho bên đó. Pháp luật lao động là ví dụ quen thuộc: các quyền của người lao động như thời giờ nghỉ, tiền lương tối thiểu, chế độ khi chấm dứt hợp đồng là mức sàn. Hợp đồng lao động, nội quy hay thoả ước có thể cho người lao động nhiều hơn, nhưng điều khoản cho ít hơn mức luật định thì không được áp dụng ở phần đó.
Kiểu quy phạm này vừa bắt buộc vừa mở: bắt buộc theo chiều xuống, mở theo chiều lên. Khi đọc, bạn hỏi điều luật bảo vệ bên nào, rồi kiểm điều khoản trong hợp đồng có làm bên đó thiệt hơn mức luật không. Người sử dụng lao động soạn hợp đồng mẫu nên rà theo đúng câu hỏi này; người lao động đọc hợp đồng cũng vậy.
Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng có tinh thần tương tự với hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung: những điều khoản loại trừ trách nhiệm của bên bán hay hạn chế quyền khiếu nại của người mua có thể không có hiệu lực. Chi tiết từng nhóm điều khoản phải đọc trong văn bản hiện hành về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Trước khi viết một điều khoản lệch khỏi luật: sáu bước
Áp dụng khi bạn muốn hợp đồng quy định khác với cách luật quy định, ví dụ về thời hạn thanh toán, phân chia rủi ro, mức phạt.
- Tìm điều luật đang quy định việc đó trong luật chung (thường là Bộ luật Dân sự 2015) và luật chuyên ngành của loại hợp đồng.
- Đọc trọn câu, tìm các dấu hiệu tuỳ nghi hoặc bắt buộc theo bảng ở trên.
- Nếu có khoảng "do các bên thoả thuận nhưng không vượt quá…", ghi lại trần hoặc sàn và giữ điều khoản trong khoảng đó.
- Hỏi điều luật bảo vệ ai. Nếu bảo vệ bên yếu thế hoặc người thứ ba, chỉ lệch theo hướng có lợi hơn cho họ.
- Viết điều khoản rõ ràng, ghi thẳng rằng hai bên thoả thuận khác với quy định mặc định, để sau này không ai nói là sơ suất.
- Với điều khoản quan trọng về tiền, rủi ro hoặc quyền chấm dứt, nhờ người làm nghề rà trước khi ký.
Bước năm thường bị bỏ qua nhưng rất có ích khi có tranh chấp: điều khoản thể hiện rõ ý chí lệch khỏi quy định mặc định cho thấy hai bên đã cân nhắc, khó bị cho là hiểu nhầm hay bị ép.
Đọc thử một điều khoản mua bán, ví dụ giả định
Giả sử một xưởng gỗ ở Bình Dương cũ, nay thuộc TP Hồ Chí Minh, bán bàn ghế cho một quán cà phê ở Tây Ninh. Hợp đồng hai bên viết vội, không nói gì về địa điểm giao hàng, thời điểm chuyển rủi ro, hay nơi thanh toán. Khi lô hàng bị ướt trên đường vận chuyển, câu hỏi đầu tiên là ai chịu thiệt.
Vì hợp đồng im lặng, các bên quay về quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng mua bán, mà phần lớn ở đây là quy phạm tuỳ nghi: luật đưa ra cách xác định địa điểm giao, thời điểm chuyển rủi ro "trừ trường hợp có thoả thuận khác" hoặc "nếu không có thoả thuận". Hai bên lẽ ra đã có thể tự viết điều khoản riêng, chẳng hạn rủi ro chuyển khi hàng tới cửa quán, và điều khoản đó sẽ được tôn trọng.
Ngược lại, nếu trong hợp đồng có câu "bên bán không chịu trách nhiệm về mọi khuyết tật của hàng hoá dù đã biết", người đọc cẩn thận sẽ dừng lại: điều khoản miễn trách nhiệm cho cả trường hợp cố ý giấu khuyết tật chạm tới nguyên tắc thiện chí, trung thực, và với hợp đồng có người tiêu dùng còn chạm tới quy định bảo vệ người tiêu dùng. Bài học từ ví dụ: chỗ hợp đồng im lặng, luật tuỳ nghi lấp vào; chỗ hợp đồng nói ngược luật bắt buộc, câu chữ hợp đồng có thể không được áp dụng.
Thoả thuận trái quy định bắt buộc thì sao
Phần trái có thể vô hiệu. Theo pháp luật dân sự, giao dịch có nội dung vi phạm điều cấm của luật thì vô hiệu. Khi chỉ một phần vi phạm và phần đó tách được, phần còn lại của hợp đồng thường vẫn có hiệu lực. Việc xác định vô hiệu toàn bộ hay từng phần là câu chuyện của từng hợp đồng; trang Hiệu Lực viết riêng chủ đề hợp đồng vô hiệu.
Quy định của luật được áp thay chỗ trống. Khi điều khoản trái luật không được áp dụng, quan hệ giữa hai bên quay về quy định của luật cho vấn đề đó. Ví dụ giả định: điều khoản cho người lao động ít ngày nghỉ hơn mức luật định không được áp, người lao động hưởng theo mức luật.
Không ai được viện dẫn thoả thuận trái luật để chối nghĩa vụ với nhà nước. Thoả thuận giữa hai bên về việc ai chịu thuế, ai làm thủ tục chỉ ràng buộc hai bên với nhau; nghĩa vụ với nhà nước vẫn xác định theo luật. Bên làm thay rồi đòi lại là chuyện giữa hai bên.
Câu hỏi thường gặp
Điều luật không có chữ "trừ trường hợp có thoả thuận khác" thì có phải bắt buộc không?
Không hẳn. Nhiều điều luật không ghi câu đó nhưng vẫn là phương án mặc định, nhất là trong phần hợp đồng của Bộ luật Dân sự. Bạn cần xem thêm điều luật bảo vệ ai, có chữ "phải", "không được" không, và nguyên tắc chung về tự do thoả thuận. Với điều khoản quan trọng, hỏi người làm nghề.
Hai bên đều đồng ý thì có được thoả thuận trái luật không?
Với quy định tuỳ nghi thì được, vì luật cho phép thoả thuận khác. Với quy định bắt buộc thì sự đồng ý của hai bên không làm cho thoả thuận trái luật trở nên hợp pháp. Phần trái có thể vô hiệu, và quy định của luật được áp dụng thay.
Hợp đồng lao động cho người lao động quyền cao hơn luật có được không?
Được. Các quyền của người lao động trong pháp luật lao động phần lớn là mức tối thiểu, nên thoả thuận có lợi hơn cho người lao động được khuyến khích. Điều khoản cho ít hơn mức luật định mới là điều khoản có vấn đề và không được áp dụng ở phần đó.
Làm sao biết một quy định có trần hoặc sàn?
Tìm các cụm "không vượt quá", "không thấp hơn", "tối đa", "tối thiểu" trong điều luật và trong nghị định hướng dẫn. Những mức này thường gắn với phạt vi phạm, lãi suất, tiền lương, thời gian. Con số cụ thể cần đọc trong văn bản hiện hành, không nên dựa vào số nhớ từ trước.
Quy chế nội bộ công ty có được đặt quy định trái luật không?
Không. Quy chế nội bộ chỉ được quy định trong khoảng luật cho phép và không được trái quy định bắt buộc. Nội quy lao động có điều khoản trái luật thì điều khoản đó không được áp dụng. Khi soạn quy chế, nên rà từng điều với luật chuyên ngành tương ứng.