Giám sát văn bản quy phạm pháp luật là việc cơ quan dân cử, tức Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, theo dõi, xem xét văn bản của các cơ quan chịu sự giám sát của mình để phát hiện và xử lý văn bản trái Hiến pháp, trái luật. Khác với kiểm tra văn bản, do cơ quan hành chính và tư pháp thực hiện theo chiều ngang hoặc từ trên xuống trong bộ máy hành chính, giám sát đi từ cơ quan dân cử sang cơ quan hành chính, toà án, viện kiểm sát.
Giám sát là kênh duy nhất chạm tới văn bản của các cơ quan cao nhất như Chính phủ, Thủ tướng, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Nó cũng là kênh để Hội đồng nhân dân tỉnh, xã xem lại văn bản của Uỷ ban nhân dân cùng cấp. Bài này mô tả ai giám sát văn bản nào, có quyền gì, và người dân theo dõi kết quả ở đâu.
Giám sát văn bản khác kiểm tra văn bản ở đâu
Hai cơ chế cùng hướng tới một mục tiêu là phát hiện văn bản trái pháp luật, nhưng khác nhau về chủ thể và nguồn quyền. Kiểm tra văn bản là công việc của bộ máy hành chính: cơ quan ban hành tự kiểm tra, Bộ Tư pháp và cơ quan tư pháp ở tỉnh kiểm tra theo phân công. Giám sát văn bản là quyền của cơ quan do cử tri bầu ra, xuất phát từ vị trí của cơ quan dân cử trong bộ máy nhà nước theo Hiến pháp.
Vì xuất phát từ hai nguồn quyền khác nhau, kết quả của chúng cũng đi theo hai đường. Kiểm tra thường kết thúc bằng việc cơ quan ban hành tự sửa, hoặc cơ quan hành chính cấp trên đình chỉ, bãi bỏ. Giám sát có thể kết thúc bằng kiến nghị của cơ quan giám sát, hoặc ở mức cao nhất là cơ quan dân cử trực tiếp bãi bỏ văn bản của cơ quan chịu giám sát.
Hai cơ chế không loại trừ nhau. Một nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh vừa thuộc diện kiểm tra của Bộ Tư pháp, vừa có thể bị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét. Một thông tư vừa được Bộ Tư pháp kiểm tra, vừa nằm trong phạm vi giám sát của uỷ ban phụ trách lĩnh vực đó của Quốc hội. Sự chồng lớp này là có chủ ý: văn bản sai có nhiều cơ hội bị phát hiện hơn.
Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có quyền gì với văn bản
Quốc hội bãi bỏ văn bản của các cơ quan cao nhất. Theo Hiến pháp 2013, Quốc hội có quyền bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội. Đây là quyền xử lý ở tầng cao nhất của hệ thống.
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đình chỉ trước, trình Quốc hội sau. Khi văn bản của Chính phủ, Thủ tướng, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có quyền đình chỉ việc thi hành và trình Quốc hội quyết định ở kỳ họp gần nhất. Cách làm hai bước này giúp chặn ngay tác động của văn bản sai mà không phải chờ kỳ họp.
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội tự bãi bỏ văn bản trái văn bản của mình. Với văn bản của các cơ quan nói trên trái pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có quyền bãi bỏ.
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội với nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh. Hiến pháp trao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyền bãi bỏ nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân tỉnh. Đây là lý do khi Thủ tướng đình chỉ thi hành một nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, Thủ tướng đồng thời đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ.
Ý nghĩa với người đọc. Khi bạn thấy một văn bản cấp cao bị "đình chỉ thi hành" mà chưa thấy văn bản bãi bỏ, rất có thể việc đang ở giữa hai bước: đã chặn tác động, chờ cơ quan có quyền cao hơn quyết định dứt khoát.
Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội
Quốc hội họp theo kỳ, nên phần lớn công việc giám sát văn bản thường xuyên do Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội thực hiện theo lĩnh vực phụ trách. Mỗi uỷ ban theo dõi văn bản quy phạm thuộc lĩnh vực của mình, từ nghị định, quyết định của Thủ tướng tới thông tư của các bộ, xem chúng có phù hợp với luật đã được Quốc hội thông qua không.
Khi phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, uỷ ban không tự bãi bỏ. Theo nguyên tắc của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, cơ quan giám sát kiến nghị cơ quan ban hành sửa đổi, bãi bỏ; nếu không được xử lý thì báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội để xem xét theo thẩm quyền. Vai trò của uỷ ban vì thế là phát hiện, yêu cầu giải trình và đẩy việc lên nơi có quyền quyết định.
Với doanh nghiệp, đây là kênh thường bị bỏ qua. Một thông tư đặt thêm điều kiện kinh doanh mà luật không cho phép chạm tới lĩnh vực mà một uỷ ban của Quốc hội đang theo dõi. Kiến nghị qua đại biểu Quốc hội hoặc qua hiệp hội tới uỷ ban phụ trách lĩnh vực là một con đường hợp pháp để vấn đề được nhìn thấy; cách viết và gửi kiến nghị thuộc trang chuyên về góp ý, kiến nghị văn bản.
Giám sát văn bản của các uỷ ban thường được thể hiện qua báo cáo giám sát chuyên đề, báo cáo thẩm tra, hoặc nội dung chất vấn. Những tài liệu này, khi được công khai, là nguồn tốt để biết văn bản nào đang bị xem xét lại.
Hội đồng nhân dân tỉnh, xã và các ban của Hội đồng
Ở địa phương, Hội đồng nhân dân giám sát văn bản của Uỷ ban nhân dân cùng cấp và văn bản của Hội đồng nhân dân cấp dưới. Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh có quyền bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp, và nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp dưới. Khi chính quyền chuyển sang hai cấp từ ngày 01/7/2025, cấp dưới của tỉnh là xã, phường, đặc khu.
Công việc giám sát thường xuyên do các ban của Hội đồng nhân dân đảm nhận, như ban pháp chế, ban kinh tế – ngân sách, ban văn hoá – xã hội, tuỳ cách tổ chức của từng nơi. Ban pháp chế thường là đầu mối giám sát văn bản quy phạm. Khi phát hiện văn bản của Uỷ ban có dấu hiệu sai, ban kiến nghị Uỷ ban xử lý; nếu không được xử lý, ban báo cáo để Hội đồng nhân dân xem xét tại kỳ họp.
Cấp xã sau sắp xếp có quy mô lớn hơn trước, Hội đồng nhân dân xã có thêm việc, và văn bản quy phạm của xã cũng được giám sát kỹ hơn. Với người dân sống ở xã, phường, kênh tiếp cận gần nhất là đại biểu Hội đồng nhân dân nơi mình bầu cử, qua tiếp xúc cử tri hoặc tiếp công dân.
So sánh nhanh giám sát và kiểm tra văn bản
Bảng dưới đặt hai cơ chế cạnh nhau để bạn biết một văn bản cụ thể có thể được xem lại qua những đường nào.
| Tiêu chí | Giám sát văn bản | Kiểm tra văn bản |
|---|---|---|
| Ai thực hiện | Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các uỷ ban; Hội đồng nhân dân và các ban | Cơ quan ban hành tự kiểm tra; Bộ Tư pháp, bộ quản lý ngành; Uỷ ban nhân dân tỉnh với Sở Tư pháp giúp việc |
| Nguồn quyền | Vị trí cơ quan dân cử theo Hiến pháp | Chức năng quản lý nhà nước về văn bản trong bộ máy hành chính |
| Văn bản trong tầm | Cả văn bản của Chính phủ, Thủ tướng, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao | Chủ yếu văn bản của bộ, của chính quyền tỉnh và xã |
| Công cụ | Yêu cầu giải trình, chất vấn, giám sát chuyên đề, kiến nghị; cơ quan dân cử có thể bãi bỏ | Thông báo cho cơ quan ban hành, kiến nghị cấp có thẩm quyền đình chỉ, bãi bỏ |
| Nhịp độ | Theo kỳ họp, chương trình giám sát và giám sát thường xuyên của các cơ quan | Thường xuyên, theo chuyên đề, theo phản ánh |
Với những văn bản nằm ngoài tầm của kiểm tra hành chính, như nghị định của Chính phủ, giám sát của cơ quan dân cử là cơ chế xem lại chủ yếu bên cạnh việc chính Chính phủ tự rà soát.
Chất vấn và giải trình: giám sát văn bản diễn ra thế nào
Giám sát văn bản không chỉ là đọc văn bản trên bàn. Nó thường đi kèm hai công cụ quen thuộc của cơ quan dân cử là yêu cầu giải trình và chất vấn. Khi một uỷ ban của Quốc hội hay một ban của Hội đồng nhân dân thấy văn bản có dấu hiệu sai, họ có thể yêu cầu cơ quan ban hành giải trình: căn cứ nào để quy định như vậy, đã lấy ý kiến ai, tác động thực tế ra sao. Phiên giải trình là nơi cơ quan ban hành phải nói bằng lý lẽ chứ không chỉ bằng văn bản.
Chất vấn tại kỳ họp là bước công khai hơn. Đại biểu có thể nêu đích danh một văn bản đang gây vướng mắc và yêu cầu bộ trưởng hoặc chủ tịch Uỷ ban nhân dân trả lời. Câu trả lời thường đi kèm cam kết rà soát, sửa đổi trong một khoảng thời gian, và lời cam kết đó lại trở thành đối tượng giám sát ở kỳ họp sau.
Với người đọc, hai công cụ này có ý nghĩa thực tế: biên bản, báo cáo của các phiên giải trình, chất vấn là nơi cơ quan ban hành tự nói ra cách họ hiểu văn bản của mình. Khi bạn đang tranh luận với cán bộ về cách áp dụng một quy định, lời giải thích công khai của chính cơ quan ban hành là tài liệu đáng giá.
Người dân theo dõi kết quả giám sát ở đâu
Kết quả giám sát không phải lúc nào cũng nằm trong một văn bản dễ tìm. Những nguồn sau thường cho bạn biết một văn bản đang bị xem xét lại:
- Nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát chuyên đề, thường kèm danh mục văn bản cần sửa đổi, bãi bỏ.
- Báo cáo giám sát của Hội đồng Dân tộc, các uỷ ban của Quốc hội, khi được công bố.
- Nghị quyết, báo cáo kết quả giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh và báo cáo của các ban, thường đăng trên trang thông tin của Hội đồng nhân dân tỉnh.
- Nội dung trả lời chất vấn của bộ trưởng, chủ tịch Uỷ ban nhân dân về văn bản đang bị phản ánh.
- Văn bản xử lý sau giám sát: văn bản sửa đổi, bãi bỏ của chính cơ quan ban hành, hoặc nghị quyết bãi bỏ của cơ quan dân cử.
Khi gặp một văn bản bạn nghi có vấn đề, hãy tra xem nó đã từng được nêu trong báo cáo giám sát nào chưa. Nếu đã có, kiến nghị của bạn sẽ có trọng lượng hơn khi dẫn được kết quả giám sát đó; nếu chưa, kênh đại biểu dân cử là một lối vào hợp pháp.
Câu hỏi thường gặp
Quốc hội có bãi bỏ được thông tư của bộ không?
Hiến pháp liệt kê văn bản mà Quốc hội trực tiếp bãi bỏ là văn bản của các cơ quan cao nhất như Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Với thông tư, cơ chế thường dùng là kiến nghị bộ trưởng tự xử lý hoặc để Thủ tướng đình chỉ, bãi bỏ.
Đại biểu Hội đồng nhân dân có tự bãi bỏ được quyết định của Uỷ ban không?
Không. Đại biểu và các ban giám sát, phát hiện và kiến nghị. Quyền bãi bỏ thuộc Hội đồng nhân dân với tư cách tập thể, thông qua nghị quyết tại kỳ họp, hoặc thuộc cơ quan cấp trên có thẩm quyền theo luật.
Người dân có tham gia giám sát văn bản được không?
Người dân không phải chủ thể giám sát theo nghĩa của luật về hoạt động giám sát, nhưng có thể phản ánh tới đại biểu, tới các ban của Hội đồng nhân dân, các uỷ ban của Quốc hội. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên cũng có cơ chế giám sát, phản biện riêng.
Giám sát văn bản có làm văn bản ngừng hiệu lực không?
Việc đang giám sát không làm văn bản ngừng hiệu lực. Chỉ khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ thi hành hoặc bãi bỏ thì phần văn bản liên quan mới thôi được áp dụng, theo phạm vi và thời điểm ghi trong quyết định đó.
Vì sao nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh không do Thủ tướng bãi bỏ trực tiếp?
Hội đồng nhân dân là cơ quan dân cử, nên Hiến pháp dành quyền bãi bỏ nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân tỉnh cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Thủ tướng có quyền đình chỉ thi hành để chặn tác động trước, đồng thời đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ.
Kết quả giám sát chuyên đề có bắt buộc cơ quan phải sửa văn bản không?
Nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hay Hội đồng nhân dân về kết quả giám sát có giá trị ràng buộc với cơ quan chịu giám sát theo nội dung nghị quyết. Còn báo cáo, kiến nghị của từng cơ quan giám sát thì cơ quan nhận phải xem xét, trả lời và báo cáo kết quả.