Hệ thống pháp luật Việt Nam có thể nhìn theo hai cách: cấu trúc bên trong gồm quy phạm pháp luật, chế định pháp luật và ngành luật; hình thức bên ngoài là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Các ngành luật chính thường được kể gồm luật hiến pháp, hành chính, hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, đất đai, kinh tế – thương mại, tài chính – ngân hàng, môi trường, các ngành luật tố tụng và tư pháp quốc tế.
Hai cách nhìn không trùng nhau. Một ngành luật có thể nằm rải trong nhiều văn bản, và một văn bản có thể chứa quy phạm của nhiều ngành. Hiểu sự khác nhau này giúp bạn không nhầm "Luật Đất đai" với "ngành luật đất đai", và biết vì sao một vụ tranh chấp đất có thể cần đọc cả Bộ luật Dân sự lẫn luật về tố tụng.
Hai cách nhìn một hệ thống
Bảng so sánh hai cấu trúc. Phần lớn sinh viên luật học cả hai ở năm nhất, nhưng người đọc luật để làm việc thường chỉ biết cấu trúc văn bản.
| Cấu trúc bên trong | Hình thức bên ngoài | |
|---|---|---|
| Đơn vị nhỏ nhất | Quy phạm pháp luật: một quy tắc xử sự | Điều, khoản, điểm trong văn bản |
| Đơn vị trung gian | Chế định: nhóm quy phạm về một nhóm quan hệ, như chế định hợp đồng, chế định thừa kế | Chương, mục trong văn bản |
| Đơn vị lớn | Ngành luật: tổng thể quy phạm điều chỉnh một loại quan hệ xã hội | Một văn bản: luật, bộ luật, nghị định |
| Tiêu chí chia | Đối tượng và phương pháp điều chỉnh | Cơ quan ban hành và tên loại văn bản |
| Ai đặt ra | Khoa học pháp lý phân loại | Cơ quan nhà nước ban hành |
Điểm mấu chốt: ngành luật là khái niệm khoa học, không có văn bản nào tuyên bố "đây là ngành luật dân sự". Còn văn bản là thực thể pháp lý có số hiệu, ngày ban hành và người ký.
Chia ngành luật theo tiêu chí nào
Tiêu chí thứ nhất là đối tượng điều chỉnh: nhóm quan hệ xã hội mà ngành luật hướng tới. Quan hệ tài sản và nhân thân giữa các chủ thể bình đẳng thuộc dân sự. Quan hệ phát sinh khi nhà nước quản lý xã hội thuộc hành chính. Quan hệ giữa nhà nước và người phạm tội thuộc hình sự. Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động thuộc lao động.
Tiêu chí thứ hai là phương pháp điều chỉnh: cách pháp luật tác động lên quan hệ đó. Phương pháp bình đẳng, thoả thuận đặc trưng cho dân sự: các bên tự quyết, luật chủ yếu đặt khung và lấp chỗ trống. Phương pháp mệnh lệnh, phục tùng đặc trưng cho hành chính: một bên có quyền ra quyết định, bên kia phải chấp hành. Hình sự dùng phương pháp quyền uy với chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.
Khi một nhóm quan hệ có đối tượng riêng và phương pháp đặc thù, nó được coi là một ngành luật riêng. Ranh giới không phải lúc nào cũng rõ. Luật lao động từng được xem là một phần của dân sự, rồi tách ra vì quan hệ lao động có yếu tố phụ thuộc và cần bảo vệ người yếu thế hơn. Luật đất đai vừa có quan hệ quản lý của nhà nước vừa có quan hệ giao dịch giữa người sử dụng đất.
Các ngành luật chính thường được kể
Danh sách dưới đây theo cách phân loại phổ biến trong giáo trình. Các trường có thể gộp hoặc tách khác nhau một chút; điều quan trọng là hiểu mỗi ngành điều chỉnh gì.
- Luật hiến pháp: tổ chức quyền lực nhà nước, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
- Luật hành chính: quan hệ quản lý của cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân; có ngành luật tố tụng hành chính đi kèm.
- Luật hình sự và luật tố tụng hình sự: tội phạm, hình phạt và trình tự giải quyết vụ án hình sự.
- Luật dân sự và luật tố tụng dân sự: quan hệ tài sản, nhân thân giữa các chủ thể bình đẳng và cách giải quyết tranh chấp tại toà.
- Luật hôn nhân và gia đình: kết hôn, quan hệ vợ chồng, cha mẹ con, ly hôn.
- Luật lao động: hợp đồng lao động, tiền lương, thời giờ làm việc, kỷ luật, an toàn lao động.
- Luật đất đai: chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, quyền của người sử dụng đất, quản lý đất.
- Luật kinh tế, thương mại: tổ chức doanh nghiệp, hoạt động thương mại, cạnh tranh, phá sản.
- Luật tài chính, ngân hàng: ngân sách, thuế, tiền tệ, tín dụng.
- Luật môi trường: bảo vệ môi trường, tài nguyên.
- Tư pháp quốc tế: quan hệ dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài, như chọn luật áp dụng.
Luật quốc tế công, điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, thường được xếp thành hệ thống riêng chứ không phải một ngành của pháp luật quốc gia, dù có liên hệ chặt qua các điều ước Việt Nam tham gia.
Một văn bản, nhiều ngành; một ngành, nhiều văn bản
Lấy Luật Đất đai năm 2024 làm ví dụ. Văn bản này chứa quy phạm về quy hoạch, giao đất, thu hồi đất, mang tính hành chính; quy phạm về chuyển nhượng, thế chấp quyền sử dụng đất, mang tính dân sự; và quy phạm về tài chính đất đai. Một văn bản, nhiều ngành.
Ngược lại, ngành luật dân sự không nằm gọn trong Bộ luật Dân sự. Quy phạm dân sự còn có trong luật về nhà ở, kinh doanh bất động sản, sở hữu trí tuệ, bảo hiểm, và cả trong nhiều nghị định. Ngành luật hành chính thì trải trên hàng trăm văn bản về từng lĩnh vực quản lý. Một ngành, nhiều văn bản.
Hiểu điều này giúp tránh hai lỗi đọc luật. Lỗi thứ nhất là chỉ đọc văn bản có tên trùng với vấn đề, ví dụ tranh chấp hợp đồng mua bán đất mà chỉ đọc Luật Đất đai, bỏ qua Bộ luật Dân sự. Lỗi thứ hai là tưởng một quy định trong luật chuyên ngành thay thế hoàn toàn luật chung, trong khi thường chỉ thay ở điểm nó quy định riêng.
Công pháp và tư pháp: cách chia lớn nhất
Công pháp. Nhóm ngành luật điều chỉnh quan hệ có sự tham gia của nhà nước với tư cách người nắm quyền lực: hiến pháp, hành chính, hình sự, tài chính công, các ngành tố tụng. Nguyên tắc nền là cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép.
Tư pháp. Nhóm ngành luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng: dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, phần lớn lao động. Nguyên tắc nền là cá nhân, tổ chức được làm những gì luật không cấm.
Vì sao cách chia này quan trọng. Nó quyết định cách bạn đọc một quy định. Trong công pháp, sự im lặng của luật nghĩa là cơ quan nhà nước không có quyền đó. Trong tư pháp, sự im lặng của luật thường nghĩa là các bên được tự thoả thuận.
Ranh giới mờ. Nhiều lĩnh vực có cả hai yếu tố. Đất đai, lao động, môi trường, cạnh tranh đều vừa có quan hệ bình đẳng giữa các bên vừa có sự can thiệp quản lý của nhà nước. Khi đọc, hãy xác định quy định cụ thể đang ở phần nào.
Dấu hiệu nhận ra một quy định thuộc ngành nào
Khi đọc một điều luật mà không chắc nó thuộc ngành nào, bạn có thể dựa vào mấy câu hỏi đơn giản. Không câu nào quyết định một mình, nhưng gộp lại thường cho câu trả lời khá rõ.
- Ai là các bên? Nếu một bên là cơ quan nhà nước đang thực hiện quyền quản lý, quy định nhiều khả năng thuộc hành chính hoặc một ngành công pháp khác. Nếu các bên là cá nhân, doanh nghiệp đứng ngang nhau, nhiều khả năng thuộc dân sự, thương mại.
- Các bên có được thoả thuận khác không? Câu có cụm "trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác" là dấu hiệu rõ của tư pháp. Câu dùng "phải", "nghiêm cấm" và không mở chỗ cho thoả thuận thường là quy phạm bắt buộc.
- Vi phạm thì hậu quả là gì? Phạt tiền, tước giấy phép là chế tài hành chính; bồi thường thiệt hại, huỷ hợp đồng là chế tài dân sự; hình phạt như tù là chế tài hình sự.
- Tranh chấp được giải quyết ở đâu? Khiếu nại lên cơ quan hành chính, khởi kiện vụ án hành chính, khởi kiện dân sự hay trọng tài thương mại cho biết quan hệ được hệ thống xếp vào đâu.
Bốn câu hỏi này cũng là cách nhanh nhất để biết bạn cần đọc tiếp văn bản nào. Một khi biết quy định thuộc ngành dân sự, bạn biết Bộ luật Dân sự là luật chung đứng phía sau; biết nó thuộc hành chính, bạn biết phải tìm thêm văn bản về xử phạt và về thủ tục khiếu nại.
Dùng hai cấu trúc khi tìm hiểu một vấn đề
Khi gặp một câu hỏi pháp lý, hãy bắt đầu bằng cấu trúc bên trong: quan hệ này thuộc ngành luật nào, chế định nào. Một người muốn biết quyền của mình khi bị chậm trả lương đang ở ngành luật lao động, chế định tiền lương. Một người tranh chấp tiền đặt cọc mua nhà đang ở ngành luật dân sự, chế định hợp đồng và biện pháp bảo đảm.
Sau đó mới chuyển sang cấu trúc bên ngoài: chế định đó được quy định ở văn bản nào, tầng nào. Chế định tiền lương nằm trong Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn; chế định đặt cọc nằm trong Bộ luật Dân sự, có thể có thêm quy định riêng trong luật về kinh doanh bất động sản nếu là nhà dự án.
Đi theo thứ tự này, bạn tránh được việc lục tìm trong hàng nghìn văn bản theo từ khoá. Việc xác định ngành luật thu hẹp vùng tìm kiếm; cấu trúc văn bản cho bạn địa chỉ chính xác. Khi vấn đề nằm ở giao điểm của nhiều ngành, đó cũng là dấu hiệu nên hỏi ý kiến người làm nghề luật.
Câu hỏi thường gặp
Ngành luật và môn học luật có giống nhau không?
Không hoàn toàn. Ngành luật là bộ phận của hệ thống pháp luật, gồm các quy phạm. Môn học luật là khoa học nghiên cứu ngành luật đó, gồm cả lý luận, lịch sử, so sánh. Tên thường trùng nhau, như luật dân sự, nhưng môn học rộng hơn phần quy phạm đang có hiệu lực.
Luật kinh tế có phải là một ngành luật độc lập không?
Đây là vấn đề còn nhiều cách phân loại. Có quan điểm coi luật kinh tế, thương mại là một ngành riêng vì có đối tượng đặc thù là hoạt động kinh doanh; có quan điểm coi phần lớn nó là bộ phận chuyên biệt của dân sự, cộng thêm quy phạm quản lý nhà nước về kinh tế. Với người đọc luật để làm việc, cách gọi không quan trọng bằng việc tìm đúng văn bản.
Một quy phạm có thể thuộc hai ngành luật không?
Về mặt lý thuyết, mỗi quy phạm được xếp vào một ngành theo quan hệ nó điều chỉnh. Nhưng trong thực tế, một điều luật có thể chứa nhiều quy phạm thuộc các ngành khác nhau, ví dụ vừa đặt nghĩa vụ hành chính vừa xác định hậu quả dân sự. Khi đọc, hãy tách từng ý ra để xác định.
Vì sao cần biết công pháp và tư pháp khi đọc luật?
Vì nó quyết định cách hiểu khoảng trống. Trong quan hệ với cơ quan nhà nước, cơ quan chỉ được làm những gì luật cho phép, nên luật im lặng thì cơ quan không có quyền. Trong quan hệ giữa các bên bình đẳng, luật im lặng thường có nghĩa các bên được tự thoả thuận.
Tư pháp quốc tế có phải là luật quốc tế không?
Không hẳn. Tư pháp quốc tế chủ yếu là các quy định của pháp luật Việt Nam, kèm các điều ước, về quan hệ dân sự, thương mại có yếu tố nước ngoài, như chọn luật nước nào để áp dụng, toà nước nào có thẩm quyền. Luật quốc tế công điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia và tổ chức quốc tế.
Sinh viên luật nên học cấu trúc văn bản hay cấu trúc ngành trước?
Giáo trình thường dạy cấu trúc ngành trước vì nó là nền lý luận. Nhưng để đọc luật thực tế, cả hai cần đi cùng nhau. Mỗi khi học một chế định, nên tự tìm xem nó nằm ở văn bản nào, tầng nào, đã có văn bản hướng dẫn chưa. Thói quen đó nối lý thuyết với việc làm sau này.