Việt Nam đã có năm bản Hiến pháp: 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013; bản 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001, còn bản 2013 đang áp dụng và được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025. Mỗi bản ra đời gắn với một giai đoạn của đất nước và để lại dấu vết trong cách tổ chức bộ máy, cách ghi nhận quyền, thậm chí trong tên gọi các cơ quan mà bạn vẫn gặp trên giấy tờ cũ.
Bài này đi qua các bản Hiến pháp ở góc kỹ thuật pháp lý: năm thông qua, quy mô, những thay đổi về cơ quan nhà nước và về cách sắp xếp quyền. Bài không bình luận đường lối hay đánh giá bản nào hơn bản nào. Mục đích là giúp người ôn thi nhớ đúng mốc, và giúp người đọc văn bản cũ hiểu vì sao trong đó có những tên cơ quan nay không còn.
Năm bản Hiến pháp nhìn nhanh
Bảng dưới tóm các mốc dễ nhầm nhất. Số chương, số điều tính theo bản được thông qua lần đầu.
| Bản | Ngày Quốc hội thông qua | Quy mô | Điểm dễ nhớ về mặt pháp lý |
|---|---|---|---|
| Hiến pháp 1946 | 9/11/1946 | 7 chương, 70 điều | Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngắn và cô đọng |
| Hiến pháp 1959 | 31/12/1959 | 10 chương, 112 điều | Mở rộng phần tổ chức bộ máy, kinh tế, quyền và nghĩa vụ công dân |
| Hiến pháp 1980 | 18/12/1980 | 12 chương, 147 điều | Bản đầu tiên sau khi đất nước thống nhất; có Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng |
| Hiến pháp 1992 | 15/4/1992 | 12 chương, 147 điều | Lập lại chức danh Chủ tịch nước, đổi Hội đồng Bộ trưởng thành Chính phủ; sửa đổi, bổ sung năm 2001 |
| Hiến pháp 2013 | 28/11/2013 | 11 chương, 120 điều | Đưa chương quyền con người lên Chương II; có hiệu lực từ 1/1/2014; sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025 |
Một mẹo nhớ cho người ôn thi: hai bản 1980 và 1992 cùng 12 chương, 147 điều, nhưng bộ máy khác hẳn nhau; bản 2013 gọn nhất kể từ 1959. Đề thi hay hỏi chéo hai chi tiết này để thử xem thí sinh có nhầm không.
Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959
Hiến pháp 1946 được Quốc hội khoá I thông qua ngày 9/11/1946, ít lâu sau ngày đất nước tuyên bố độc lập. Đây là bản ngắn nhất trong lịch sử lập hiến Việt Nam, với 7 chương và 70 điều. Người học luật thường được giới thiệu bản này như một văn bản cô đọng: mỗi điều ngắn, nói thẳng nguyên tắc, ít dẫn chiếu sang văn bản khác.
Hiến pháp 1959 được thông qua ngày 31/12/1959 và công bố ngay đầu năm 1960. Quy mô tăng lên 10 chương, 112 điều. So với bản trước, phần quy định về tổ chức bộ máy nhà nước, về chế độ kinh tế và về quyền, nghĩa vụ của công dân được viết dài và chi tiết hơn. Bản này áp dụng trong suốt giai đoạn đất nước còn chia cắt.
Với người đọc ngày nay, hai bản này chủ yếu có giá trị lịch sử và học thuật. Rất hiếm khi bạn gặp một văn bản đang áp dụng dẫn căn cứ vào Hiến pháp 1946 hay 1959. Tuy vậy, khi đọc tài liệu lưu trữ, hồ sơ đất đai, nhà cửa từ những năm rất xa, bạn có thể gặp tên các cơ quan được lập theo hai bản Hiến pháp này, và cần hiểu rằng chúng thuộc một hệ thống tổ chức đã thay đổi nhiều lần.
Hiến pháp 1980: bản đầu tiên sau khi thống nhất
Hiến pháp 1980 được thông qua ngày 18/12/1980, là bản Hiến pháp đầu tiên áp dụng trên cả nước sau khi thống nhất, với tên nước là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quy mô tăng lên 12 chương, 147 điều, dài nhất tính tới lúc đó.
Điểm dễ nhận ra nhất về mặt tổ chức là mô hình nguyên thủ quốc gia tập thể: thay cho chức danh Chủ tịch nước, Hiến pháp 1980 lập Hội đồng Nhà nước. Cơ quan hành chính cao nhất được gọi là Hội đồng Bộ trưởng. Vì vậy, các văn bản ban hành trong những năm 1980 thường mang tên "quyết định của Hội đồng Bộ trưởng", "pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước", điều mà người trẻ đọc lại dễ bối rối.
Nếu bạn đang xử lý một hồ sơ có giấy tờ từ thời kỳ này, chẳng hạn quyết định giao nhà, giao đất của cơ quan nhà nước ngày ấy, cái tên cơ quan trên giấy không nói gì về giá trị hiện nay của giấy đó. Giấy còn được công nhận hay không là câu hỏi của luật chuyên ngành hiện hành, ví dụ Luật Đất đai 2024 với các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất, chứ không phải câu hỏi của Hiến pháp.
Một ý nhỏ cho người ôn thi: tên nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có từ năm 1976, khi Quốc hội nước Việt Nam thống nhất họp kỳ đầu; Hiến pháp 1980 ghi nhận tên nước đó trong văn bản lập hiến. Đề thi đôi khi hỏi tên nước xuất hiện từ bản Hiến pháp nào, và đáp án "1980" chỉ đúng nếu hiểu là bản Hiến pháp đầu tiên mang tên nước này.
Hiến pháp 1992 và lần sửa đổi năm 2001
Hiến pháp 1992 được thông qua ngày 15/4/1992, giữ quy mô 12 chương, 147 điều nhưng thay đổi đáng kể cách tổ chức bộ máy. Chức danh Chủ tịch nước được lập lại thay cho Hội đồng Nhà nước; Hội đồng Bộ trưởng được đổi thành Chính phủ. Từ đây, những tên gọi quen thuộc ngày nay như nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ trở thành hình thức văn bản phổ biến.
Trong Hiến pháp 1992, phần quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nằm ở Chương V, sau các chương về nguyên tắc nền của Nhà nước, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ và bảo vệ Tổ quốc. Năm 2001, Quốc hội thông qua nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992. Bản Hiến pháp vẫn được gọi là Hiến pháp 1992, kèm ghi chú đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001.
Đây là một ví dụ hay để hiểu kỹ thuật "sửa đổi, bổ sung một số điều": Quốc hội không ban hành bản Hiến pháp mới mà ra một văn bản chỉ chứa các điều thay đổi. Người đọc phải ghép văn bản gốc với văn bản sửa đổi mới thấy câu chữ đang áp dụng. Lần sửa năm 2025 với Hiến pháp 2013 dùng lại đúng kỹ thuật này.
Các văn bản pháp luật ban hành trong khoảng 1992 tới 2013 thường mở đầu bằng câu căn cứ Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung. Gặp câu này trong một nghị định cũ, bạn chỉ biết thời điểm nó được ban hành; còn văn bản đó còn hiệu lực hay không phải kiểm riêng, không suy ra từ câu căn cứ.
Hiến pháp 2013 khác Hiến pháp 1992 ở đâu
Quyền con người được đưa lên Chương II. Chương này được đặt tên "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân", đứng ngay sau chương mở đầu về những nguyên tắc nền của Nhà nước. Việc đổi vị trí và tên chương cho thấy cách tiếp cận: quyền con người được ghi nhận như nền tảng, không chỉ là phần phụ sau các chương về kinh tế, văn hoá.
Nguyên tắc hạn chế quyền được ghi thành câu chữ. Hiến pháp 2013 ghi rõ quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật, trong trường hợp cần thiết vì những lý do được liệt kê. Đây là một chuẩn để soi các văn bản dưới luật, sẽ được giải thích kỹ ở bài riêng.
Có thêm hai thiết chế hiến định. Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước được quy định ở một chương riêng, Chương X. Trước đó, Kiểm toán nhà nước hoạt động theo luật, chưa được ghi trong Hiến pháp.
Gọn hơn về quy mô. Bản 2013 có 11 chương, 120 điều, ít hơn bản 1992. Nhiều nội dung chi tiết được chuyển cho luật quy định, theo hướng Hiến pháp chỉ giữ nguyên tắc.
Chính quyền địa phương thành một chương riêng. Chương IX mang tên "Chính quyền địa phương", thay cho cách gọi theo hai cơ quan hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân trước đây. Chính chương này là phần được sửa đổi nhiều nhất trong năm 2025.
Lần sửa đổi, bổ sung năm 2025 và cách gọi tên cho đúng
Năm 2025, Quốc hội thông qua việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 2013, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, cùng thời điểm chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động. Nội dung thay đổi về đơn vị hành chính và chính quyền địa phương đã được trình bày ở trang chuyên về luật mới của cụm; ở đây chỉ nói về vị trí của lần sửa đổi trong lịch sử lập hiến.
Về hình thức, đây là lần sửa đổi một số điều chứ không phải ban hành bản Hiến pháp mới. Vì vậy, cách gọi đúng vẫn là Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Viết "Hiến pháp 2025" là không chính xác và có thể gây hiểu nhầm khi bạn dẫn chiếu trong bài luận, đơn từ hay câu trả lời bài thi.
Về hệ quả, lần sửa đổi này kéo theo hàng loạt luật về tổ chức bộ máy được ban hành mới hoặc sửa đổi trong năm 2025. Đó đúng là logic của thứ bậc văn bản: khi tầng trên cùng đổi, các tầng bên dưới phải điều chỉnh để tiếp tục phù hợp. Các văn bản của địa phương cũng phải rà lại theo đơn vị hành chính mới; còn văn bản cũ của tỉnh, huyện trước đây áp dụng tiếp ra sao là câu hỏi về hiệu lực, thuộc một trang khác của cụm.
Đọc lịch sử Hiến pháp để làm gì trong việc thực tế
Lịch sử lập hiến nghe có vẻ chỉ dành cho người học luật, nhưng vài mốc trong đó giúp ích cho người đọc văn bản hằng ngày.
- Nhận ra thời kỳ của một văn bản cũ qua tên cơ quan ban hành: Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng Nhà nước cho biết văn bản thuộc giai đoạn trước năm 1992.
- Hiểu vì sao một số giấy tờ ghi tên cơ quan nay không còn, và biết đó không phải dấu hiệu giấy tờ giả hay vô giá trị.
- Ôn thi công chức, thi tuyển ngành luật: số chương, số điều, ngày thông qua, bản nào lập hay bỏ chức danh nào là câu hỏi quen thuộc.
- Đọc câu "căn cứ Hiến pháp" ở đầu văn bản để định vị thời điểm ban hành, rồi tra riêng tình trạng hiệu lực.
- Viết đúng tên văn bản khi trích dẫn: Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001, Hiến pháp 2013 sửa đổi năm 2025, không tự đặt tên mới.
Khi cần trích nguyên văn một điều của bản cũ, hãy dùng bản đăng trên Công báo hoặc cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật, vì nhiều trang mạng chép lại có sai sót chính tả, thiếu điều hoặc trộn câu chữ của các lần sửa đổi.
Câu hỏi thường gặp
Việt Nam đã có bao nhiêu bản Hiến pháp?
Việt Nam đã có năm bản Hiến pháp: 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013. Ngoài ra có các lần sửa đổi, bổ sung một số điều, như năm 2001 với Hiến pháp 1992 và năm 2025 với Hiến pháp 2013, nhưng đó không phải là bản Hiến pháp mới.
Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam được thông qua khi nào?
Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội khoá I thông qua ngày 9/11/1946. Bản này gồm 7 chương, 70 điều, là bản ngắn nhất trong lịch sử lập hiến Việt Nam và thường được nhắc tới như một văn bản cô đọng.
Có nên gọi bản đang áp dụng là Hiến pháp 2025 không?
Không nên. Năm 2025 Quốc hội chỉ sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 2013. Cách gọi chính xác là Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, tương tự cách gọi Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001.
Hiến pháp 1980 và 1992 khác nhau chủ yếu ở đâu?
Về tổ chức bộ máy, Hiến pháp 1980 có Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng; Hiến pháp 1992 lập lại chức danh Chủ tịch nước và đổi Hội đồng Bộ trưởng thành Chính phủ. Hai bản có cùng quy mô 12 chương, 147 điều nên dễ bị nhầm khi ôn thi.
Văn bản cũ ghi căn cứ Hiến pháp 1992 thì còn dùng được không?
Câu căn cứ chỉ cho biết thời điểm văn bản được ban hành. Văn bản đó còn hiệu lực hay không phải tra riêng trên cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật, vì nhiều văn bản ban hành trước 2014 vẫn áp dụng, trong khi nhiều văn bản khác đã bị thay thế.
Giấy tờ do Hội đồng Bộ trưởng ban hành có còn giá trị không?
Tên cơ quan ban hành không quyết định giá trị hiện nay của giấy tờ. Một quyết định cá biệt cũ như giao đất, giao nhà còn được công nhận hay không phụ thuộc vào luật chuyên ngành hiện hành, ví dụ Luật Đất đai 2024; nên hỏi cơ quan tiếp nhận hồ sơ hoặc người làm nghề khi cần dùng.